Hà Nội
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 23/5
Hỗ trợ doanh nghiệp nhận chuyển giao công nghệ
Theo Nghị định 76/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp có dự án thuộc ngành, nghề ưu đãi đầu tư, địa bàn ưu đãi đầu tư nhận chuyển giao công nghệ từ tổ chức khoa học và công nghệ.
Cụ thể, để được hỗ trợ doanh nghiệp phải đáp ứng 3 điều kiện: 1- Có dự án thuộc ngành, nghề ưu đãi đầu tư, địa bàn ưu đãi đầu tư theo quy định của luật đầu tư; 2- Có hợp đồng chuyển giao công nghệ hoặc Giấy chứng nhận đăng ký chuyển giao công nghệ (nếu thuộc đối tượng phải đăng ký chuyển giao công nghệ); 3- Công nghệ được chuyển giao thuộc dự án quy định tại (1) nêu trên.
Hình thức hỗ trợ là cho vay vốn với lãi suất ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay để thực hiện chuyển giao công nghệ; hỗ trợ kinh phí thông qua thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ hoặc hỗ trợ trực tiếp.
Nội dung hỗ trợ đối với hỗ trợ kinh phí thông qua thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ hoặc hỗ trợ trực tiếp để phục vụ hoạt động cải tiến, đổi mới công nghệ, sử dụng tối đa hiệu suất; nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm trong quá trình thực hiện chuyển giao công nghệ bao gồm: Được ưu tiên đưa vào danh mục nhiệm vụ tuyển chọn, giao trực tiếp và được hỗ trợ theo quy định của chương trình, quỹ thông qua nhiệm vụ khoa học và công nghệ; được hỗ trợ thuê chuyên gia tư vấn phục vụ đánh giá hiệu chỉnh thiết bị, quy trình công nghệ, dây chuyền sản xuất; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực hấp thụ, làm chủ công nghệ cho doanh nghiệp đối với hỗ trợ trực tiếp.
Về mức hỗ trợ, ngoài hưởng các ưu đãi đối với ngành, nghề ưu đãi đầu tư và địa bàn đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp được hưởng mức hỗ trợ áp dụng theo quy định hiện hành đối với nguồn kinh phí hỗ trợ được bố trí từ các chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia; quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; nguồn ngân sách nhà nước dành cho khoa học và công nghệ và kinh phí huy động từ các nguồn hợp pháp khác.
Được hỗ trợ tối đa 2%/năm lãi suất vay từ Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, quỹ phát triển khoa học và công nghệ của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đối với khoản vay thực hiện chuyển giao công nghệ trong dự án.
Ngoài ra, được vay vốn với lãi suất ưu đãi theo quy định của các quỹ, tổ chức tín dụng cho vay ưu đãi đối với khoản vay thực hiện chuyển giao công nghệ trong dự án.
--------------
Quy định quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 79/2018/NĐ-CPquy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
Nghị định này quy định về quản lý, bảo quản vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ; nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu, sửa chữa vũ khí; huấn luyện, cấp, cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận sử dụng, chứng chỉ quản lý vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ; thẩm quyền, trình tự, thủ tục làm mất tính năng, tác dụng và xác nhận tình trạng vũ khí, công cụ hỗ trợ được sử dụng để triển lãm, trưng bày hoặc làm đạo cụ trong hoạt động văn hóa, nghệ thuật; thu hồi vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ và giấy phép, giấy xác nhận, giấy chứng nhận, chứng chỉ về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ; kiểm tra công tác quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ; trách nhiệm quản lý nhà nước về vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ.
Theo Nghị định, việc quản lý, bảo quản vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ thực hiện theo quy định sau đây: Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp sau khi được trang bị vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ phải quản lý, bảo quản tại kho, nơi cất giữ và làm thủ tục đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép sử dụng, giấy xác nhận đăng ký theo quy định; chỉ được sử dụng khi có giấy phép sử dụng hoặc giấy xác nhận đăng ký.
Kho, nơi cất giữ vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ phải được bố trí địa điểm bảo đảm an toàn, an ninh, trật tự, phòng, chống cháy, nổ; xây dựng phương án bảo vệ; có nội quy được người đứng đầu cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp được trang bị vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ phê duyệt...
Chế độ quản lý, bảo quản
Nghị định nêu rõ, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp được trang bị, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ phải lập hồ sơ, sổ sách theo dõi; khi sử dụng phải được người đứng đầu cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cho phép và ghi vào hồ sơ, sổ sách theo dõi; sau khi sử dụng phải bàn giao cho người được giao quản lý kho, nơi cất giữ để bảo dưỡng, bảo quản và ký nhận vào sổ theo dõi.
Hàng năm, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp phải có kế hoạch tổ chức kiểm tra kỹ thuật, đánh giá chất lượng, phân loại vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ được trang bị, sử dụng. Đối với vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ không còn khả năng sử dụng, hết hạn sử dụng phải báo cáo cơ quan trang bị, cấp giấy phép sử dụng giấy xác nhận đăng ký để thu hồi, thanh lý, tiêu hủy.
Định kỳ 06 tháng, 01 năm cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp phải có văn bản báo cáo cơ quan cấp giấy phép sử dụng giấy xác nhận đăng ký về tình hình, kết quả công tác quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ.
Trường hợp mất vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ hoặc xảy ra sự cố đối với kho, nơi cất giữ vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ phải có văn bản báo cáo ngay cơ quan đã cấp giấy phép, giấy xác nhận để có biện pháp xử lý theo quy định.
Người được giao quản lý kho, nơi cất giữ vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ phải thống kê, ghi chép đầy đủ vào sổ theo dõi việc cấp phát, tiếp nhận, thu hồi, điều chuyển, điều động, chuyển cấp, hư hỏng, mất, sửa chữa vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ; thường xuyên kiểm tra, bảo dưỡng, có biện pháp phòng chống han, gỉ, mối, mọt, ẩm, mốc, mất mát, cháy, nổ và các trường hợp nguy hiểm khác đối với vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ; thực hiện vệ sinh trong, ngoài kho, nơi cất giữ vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ.
Điều kiện sản xuất, kinh doanh vũ khí
Theo Nghị định, điều kiện nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, sửa chữa vũ khí đối với tổ chức, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an là: Tổ chức, doanh nghiệp được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hoặc Bộ trưởng Bộ Công an giao kế hoạch hoặc nhiệm vụ nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, sửa chữa vũ khí; có phương tiện, thiết bị phù hợp để kiểm tra, giám sát các thông số kỹ thuật và phục vụ công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm trong quá trình chế tạo, sản xuất, sửa chữa vũ khí; có nơi thử nghiệm riêng biệt (trừ nghiên cứu, chế tạo, sản xuất vũ khí thô sơ). Kho chứa thành phẩm phải bảo đảm an toàn theo đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.
Địa điểm chế tạo, sản xuất, sửa chữa vũ khí phải bảo đảm điều kiện về an ninh, trật tự, phòng cháy và chữa cháy, bảo vệ môi trường; bảo đảm khoảng cách an toàn đối với khu dân cư, công trình văn hóa, xã hội, lịch sử, khu vực bảo vệ, nơi cấm, khu vực cấm.
Người quản lý tổ chức, doanh nghiệp phải được huấn luyện về quản lý, sử dụng vũ khí, kỹ thuật an toàn, phòng cháy, chữa cháy, phòng ngừa, ứng phó sự cố trong quá trình sản xuất, sửa chữa vũ khí.
Người lao động trực tiếp tham gia chế tạo, sản xuất, sửa chữa vũ khí phải được huấn luyện về kỹ thuật an toàn, phòng cháy, chữa cháy, phòng ngừa, ứng phó sự cố, bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động trong quá trình chế tạo, sản xuất, sửa chữa vũ khí.
---------------
Bổ sung chế độ chính sách cho người đi cai nghiện ma túy tự nguyện
Chính phủ ban hành Nghị định số 80/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 147/2003/NĐ-CPngày 02/12/2003 của Chính phủ quy định về điều kiện, thủ tục cấp giấp phép và quản lý hoạt động của cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện; Nghị định 135/2004/NĐ-CP ngày 10/6/2004 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức hoạt động của cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và chế độ áp dụng đối với người chưa thành niên, người tự nguyện vào cơ sở chữa bệnh.
Nghị định số 80/2018/NĐ-CP bổ sung Điều 2a chế độ chính sách đối với người đi cai nghiện ma túy tự nguyện. Cụ thể, chế độ chính sách đối với người cai nghiện ma túy tự nguyện theo quy định tại Nghị định này được ngân sách nhà nước hỗ trợ theo quy định tại Điều 48a và Điều 48b Nghị định số 135/2004/NĐ-CP được bổ sung theo quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 2 Nghị định này.
Chế độ chính sách đối với người cai nghiện ma túy tự nguyện được thực hiện thí điểm từ năm 2018 đến năm 2020 tại 15 cơ sở cai nghiện ma túy ngoài công lập ở 10 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gồm: Sơn La, Thái Nguyên, Hòa Bình, Nghệ An, Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đắk Lắk, Đồng Nai, Bình Dương và Cần Thơ.
Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính về cai nghiện ma túy tự nguyện tại các cơ sở cai nghiện ma túy ngoài công lập.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và UBND các tỉnh, thành phố thí điểm kiểm tra, theo dõi, đánh giá, tổng kết, báo cáo Chính phủ.
Thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện tối thiểu là 6 tháng, gồm: Điều trị cắt cơn, giải độc và phục hồi sức khỏe; giáo dục, phục hồi hành vi, nhân cách; lao động trị liệu, tư vấn hướng nghiệp, dạy nghề, chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng; phòng, chống tái nghiện.
Thời gian điều trị cắt cơn, giải độc, điều trị rối loạn tâm thần và phục hồi sức khỏe tối thiểu là 20 ngày.
Nghị định số 80/2018/NĐ-CP bổ sung Điều 48a chế độ, chính sách đối với người đi cai nghiện ma túy tự nguyện. Ngân sách nhà nước bảo đảm tiền thuốc cắt cơn, giải độc, điều trị rối loạn tâm thần cho người cai nghiện ma túy tự nguyện tại các cơ sở cai nghiện công lập.
Ngân sách nhà nước hỗ trợ 95% chi phí sàng lọc, đánh giá mức độ nghiện, thực hiện các dịch vụ xét nghiệm y tế theo chỉ định của bác sỹ; điều trị nhiễm trùng cơ hội và thuốc chữa bệnh thông thường đối với các đối tượng gồm: Thương binh; người bị nhiễm chất độc hóa học và suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; người thuộc hộ nghèo; người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa; trẻ em mồ côi; người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng.
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh căn cứ khả năng cân đối ngân sách và dự kiến số lượng người tham gia cai nghiện ma túy tự nguyện tại các cơ sở công lập thuộc phạm vi quản lý quyết định mức hỗ trợ cao hơn, đối tượng mở rộng hơn ngoài chế độ quy định trên; mức hỗ trợ tiền ăn hàng tháng, tiền mặc, đồ dùng sinh hoạt cá nhân ít nhất bằng 70% định mức đối với người nghiện ma túy bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 9/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc.
Nguồn kinh phí thực hiện chế độ, chính sách đối với người cai nghiện ma túy tự nguyện do ngân sách địa phương bảo đảm theo phân cấp của Luật ngân sách nhà nước.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 5/7/2018; bãi bỏ Điều 19, Điều 20 và Điều 22 Nghị định số 147/2003/NĐ-CP; bãi bỏ Điều 26, Điều 27 và Điều 49 Nghị định số 135/2004/NĐ-CP.
---------------
Quy định mới về gia công hàng hóa cho thương nhân nước ngoài
Nghị định 69/2018/NĐ-CP quy định thương nhân Việt Nam được nhận gia công hàng hóa hợp pháp cho thương nhân nước ngoài, trừ hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu; hàng hóa tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu.
Đối với hàng hóa thuộc danh mục đầu tư kinh doanh có điều kiện, chỉ các thương nhân đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định về sản xuất, kinh doanh mặt hàng đó mới được gia công xuất khẩu cho nước ngoài.
Đối với các mặt hàng nhập khẩu theo hình thức chỉ định thương nhân thuộc thẩm quyền quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, việc gia công hàng hóa thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép, thương nhân chỉ được ký hợp đồng gia công cho thương nhân nước ngoài sau khi được Bộ Công Thương cấp Giấy phép.
Hợp đồng gia công phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương theo quy định của Luật thương mại và phải tối thiểu bao gồm các điều khoản: 1- Tên, địa chỉ của các bên ký hợp đồng và bên gia công trực tiếp; 2- Tên, số lượng sản phẩm gia công; 3- Giá gia công; 4- Thời hạn thanh toán và phương thức thanh toán; 5- Danh mục, số lượng, trị giá nguyên liệu, phụ liệu, vật tư nhập khẩu và nguyên liệu, phụ liệu, vật tư sản xuất trong nước (nếu có) để gia công; định mức sử dụng nguyên liệu, phụ liệu, vật tư; định mức vật tư tiêu hao và tỷ lệ hao hụt nguyên liệu trong gia công; 6- Danh mục và trị giá máy móc, thiết bị cho thuê, cho mượn hoặc tặng cho để phục vụ gia công (nếu có); 7- Biện pháp xử lý phế liệu, phế thải, phế phẩm và nguyên tắc xử lý máy móc, thiết bị thuê, mượn, nguyên liệu, phụ liệu, vật tư dư thừa sau khi kết thúc hợp đồng gia công; 8- Địa điểm và thời gian giao hàng; 9- Nhãn hiệu hàng hóa và tên gọi xuất xứ hàng hóa; 10- Thời hạn hiệu lực của hợp đồng.
Nghị định quy định rõ thương nhân nhận gia công được miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu theo quy định của pháp luật về thuế đối với hàng hóa tạm nhập khẩu theo định mức và tỷ lệ hao hụt để thực hiện hợp đồng gia công và đối với sản phẩm gia công xuất khẩu; được thuê thương nhân khác gia công; phải nộp thuế xuất khẩu theo quy định của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với phần nguyên liệu, phụ liệu, vật tư mua trong nước; phải tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động gia công xuất khẩu, nhập khẩu, sản xuất hàng hóa trong nước và các điều khoản của hợp đồng gia công đã được ký kết...
---------------
Thủ tướng bổ nhiệm Phó Tổng Thanh tra Chính phủ
Tại Quyết định 589/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ điều động, bổ nhiệm ông Trần Ngọc Liêm, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng giữ chức vụ Phó Tổng Thanh tra Chính phủ.
Thủ tướng chỉ thị tăng cường triển khai thi hành Luật Hợp tác xã
Thủ tướng Chính phủ vừa có Chỉ thị yêu cầu các cơ quan liên quan tăng cường công tác triển khai thi hành Luật Hợp tác xã năm 2012.
Chỉ thị nêu rõ, trong những năm qua, cùng với doanh nghiệp nói chung, hợp tác xã là một thành phần kinh tế quan trọng trong cung cấp dịch vụ và kết nối sản xuất cho hàng chục triệu hộ gia đình để tạo ra sản phẩm có năng suất và chất lượng cao, gắn kết với doanh nghiệp trong tiêu thụ, chế biến.
Sau gần 5 năm triển khai Luật Hợp tác xã năm 2012, khu vực kinh tế tập thể với nòng cốt là hợp tác xã, mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng bước đầu tạo được chuyển biến cả về chất lượng, hiệu quả, ngày càng khẳng định rõ nét hơn vai trò quan trọng và có ý nghĩa toàn diện về kinh tế, chính trị, xã hội, đã có những tín hiệu mới trong công cuộc phát triển phong trào hợp tác xã toàn quốc. Hiện nay, cả nước có khoảng 19.569 hợp tác xã, giai đoạn 2013-2016, đã có 5.641 hợp tác xã thành lập mới. Doanh thu của Hợp tác xã và thu nhập của người lao động được cải thiện, tác động tích cực đến kinh tế hộ thành viên. Đóng góp của khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã cho tăng trưởng GDP của cả nước trong 5 năm qua đạt trên 4%, góp phần thực hiện xoá đói giảm nghèo, ổn định an ninh, chính trị tại cộng đồng.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã còn nhiều khó khăn, phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Để Luật Hợp tác xã 2012 tiếp tục được triển khai một cách hiệu quả và thực sự phát huy hiệu lực trong thực tiễn, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đề nghị Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội tăng cường công tác tuyên truyền, tập huấn về pháp luật hợp tác xã cho toàn bộ hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên và cho các tầng lớp nhân dân hiểu rõ Luật Hợp tác xã năm 2012, cũng như vai trò và lợi ích của tổ chức hợp tác xã trong phát triển kinh tế - xã hội.
Không để các hợp tác xã tồn tại hình thức
Các cấp ủy Đảng, chính quyền cần quán triệt sâu sắc vai trò của kinh tế tập thể, hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường, xu thế phát triển trong mối quan hệ với các chủ thể kinh tế khác; xây dựng nội dung và phương pháp tuyên truyền phù hợp cho từng đối tượng để việc tuyên truyền thiết thực và hiệu quả, với nhiều hình thức đa dạng, phong phú như: Tổ chức hội nghị, hội thảo, tọa đàm, tổ chức cuộc thi tìm hiểu về hợp tác xã, mở các chuyên san, chuyên mục về phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã trên các phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức triển lãm, hội chợ giới thiệu các sản phẩm của hợp tác xã, xây dựng các phim phóng sự, phim truyền hình về hợp tác xã.
Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về hợp tác xã; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các quy định trong Luật Hợp tác xã: Nghiên cứu, đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định còn bất cập tại Luật Hợp tác xã 2012 cho phù hợp với tình hình thực tế của mỗi giai đoạn phát triển; chỉ đạo, hướng dẫn xử lý đối với các trường hợp hợp tác xã không đăng ký và tổ chức lại hoạt động theo Luật hợp tác xã năm 2012; các hợp tác xã giải thể nhưng vướng mắc về công nợ, vốn góp, không để các hợp tác xã tồn tại hình thức; rà soát vướng mắc trong việc cho hợp tác xã vay vốn để có hướng dẫn, xử lý cụ thể nhằm tạo điều kiện cho các hợp tác xã tiếp cận vay vốn theo chính sách quy định của Chính phủ.
Xây dựng mô hình hợp tác xã hiệu quả
Đồng thời, chỉ đạo, thực hiện xây dựng mô hình hợp tác xã và tổng kết mô hình hợp tác xã hoạt động hiệu quả, liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị nhằm mục tiêu bảo vệ môi trường, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho thành viên; kịp thời phát hiện, biểu dương, khen thưởng nhân rộng, tổng kết các mô hình hợp tác xã hoạt động có hiệu quả, từng bước khẳng định kinh tế tập thể, hợp tác xã là nhân tố quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội.
Cùng với đó là nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước và hợp tác quốc tế đối với phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã, gắn liền với công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp trong phát triển hợp tác xã: Kiện toàn, bổ sung vốn điều lệ quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã từ trung ương đến địa phương. Xây dựng mô hình thí điểm và tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong hợp tác xã được vay vốn từ Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Luật Hợp tác xã; đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng toàn diện cán bộ và thành viên hợp tác xã, gắn với đề án đào tạo nghề cho nông thôn, theo hướng tạo nguồn cán bộ quản lý chuyên nghiệp cho hợp tác xã, đặc biệt là giám đốc hợp tác xã và tạo đội ngũ cán bộ kế cận trong thành viên hợp tác xã; bố trí lực lượng và thực hiện hỗ trợ hợp tác xã thực hiện kiểm toán để nâng cao tính minh bạch trong hoạt động của các hợp tác xã...
------------
Xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã
Tại Chỉ thị, Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã đến năm 2030 để có định hướng, chính sách tổng thể, lâu dài cho phát triển hợp tác xã; xây dựng Chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã giai đoạn 2021-2025 và xây dựng đề án “Lựa chọn, hoàn thiện, nhân rộng mô hình hợp tác xã kiểu mới tại các địa phương trên cả nước giai đoạn 2021-2025”.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng Kế hoạch xây dựng mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ giữa hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp với các doanh nghiệp; xây dựng Kế hoạch xây dựng mô hình hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp và Đề án nâng cao trình độ quản lý sản xuất cho nguồn nhân lực phát triển hợp tác xã nông nghiệp bằng nguồn vốn xã hội hóa ở nước ngoài.
UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung chỉ đạo, đề ra định hướng, triển khai cơ chế chính sách tập trung tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc tạo điều kiện cho kinh tế tập thể phát triển tại địa phương; xây dựng các mô hình hợp tác xã hoạt động hiệu quả, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị; các mô hình hợp tác xã nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao...
------------
Triển khai Tháng hành động phòng, chống ma túy
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan thành viên Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo triển khai Tháng hành động phòng, chống ma tuý từ ngày 01-30/6/2018 với chủ đề "Hãy bảo vệ thế hệ trẻ trước hiểm họa ma túy".
Hưởng ứng Tháng hành động phòng, chống ma túy, Ngày quốc tế phòng, chống ma tuý và Ngày toàn dân phòng, chống ma tuý (ngày 26/6), Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan thành viên Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo triển khai Tháng hành động phòng, chống ma tuý từ ngày 01-30/6/2018 với chủ đề "Hãy bảo vệ thế hệ trẻ trước hiểm họa ma túy".
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tăng cường tuyên truyền về hiểm họa của tệ nạn ma túy, nhất là tác hại của các loại ma túy tổng hợp (ma túy đá, thuốc lắc, cỏ Mỹ…), cần sa và các chất hướng thần mới để nâng cao ý thức tự phòng ngừa cho cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ (thanh, thiếu niên, học sinh, sinh viên...). Lồng ghép nội dung tuyên truyền phòng, chống ma túy vào các hoạt động sinh hoạt hè của học sinh, sinh viên; gắn với các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, thi tìm hiểu pháp luật, tập huấn, tọa đàm, nói chuyện chuyên đề...
Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo tổ chức các hoạt động giáo dục, truyền thông phòng, chống ma túy gắn với chủ đề “Hãy bảo vệ thế hệ trẻ trước hiểm họa ma túy” trong hệ thống các cơ sở giáo dục, đào tạo.
Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam đa dạng hóa các hình thức truyền thông; xây dựng chuyên trang, chuyên mục, thông điệp truyền hình, truyền thanh, phóng sự về phòng, chống ma túy; tăng thời lượng, tần suất đăng tin, bài vào các khung giờ có nhiều người theo dõi và trên hệ thống ứng dụng xem truyền hình, phát thanh, đọc tin tức trên di động.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công an hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc và tổng hợp kết quả thực hiện Tháng hành động phòng, chống ma túy; chỉ đạo các lực lượng tập trung điều tra, triệt phá các tổ chức, đường dây mua bán ma túy lớn, các điểm, tụ điểm phức tạp về ma túy; kịp thời cung cấp và định hướng thông tin cho các cơ quan truyền thông; chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo và các cơ quan liên quan tổ chức hoạt động hưởng ứng Tháng hành động phòng, chống ma túy tại Hà Nội.
Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các cơ quan báo chí và hệ thống thông tin cơ sở tăng thời lượng, tần suất thông tin, tuyên truyền phòng, chống ma tuý; chỉ đạo các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông và internet truyền tải các thông điệp, thông tin về phòng, chống ma túy đến người sử dụng dịch vụ bằng nhiều hình thức khác nhau; kiểm soát chặt chẽ, ngăn chặn hoạt động quảng bá, mua bán trái phép trên mạng xã hội; chỉ đạo hệ thống Bưu điện kiểm soát bưu phẩm chặt chẽ, phối hợp với các cơ quan hữu quan kịp thời phát hiện việc vận chuyển các chất ma túy bất hợp pháp qua đường bưu điện.
Các Bộ, cơ quan thành viên Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ nhiệm vụ được phân công và Chương trình công tác năm 2018 của Ủy ban Quốc gia, xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện Tháng hành động phòng, chống ma túy hiệu quả, thiết thực và báo cáo về Bộ Công an trước ngày 15/7/2018 để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
-------------
Tháo gỡ vướng mắc của doanh nghiệp trong lĩnh vực thuế, hải quan
Thủ tướng Chính phủ vừa có ý kiến về việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp trong lĩnh vực thuế, hải quan.
Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính nghiên cứu phản ánh, kiến nghị khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp (Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam; Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam; Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam; Hội tư vấn thuế Việt Nam; Hiệp hội Dệt may Việt Nam; Văn phòng Ban nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân; Hiệp hội doanh nghiệp Châu Âu tại Việt Nam; Công ty TNHH may Tinh Lợi) để xử lý, trả lời theo quy định và báo cáo Thủ tướng trước ngày 10/6/2018.
Bên cạnh đó, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra công vụ; xử lý nghiêm đối với cán bộ, công chức có hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu, phiền hà trong giải quyết thủ tục hành chính và xem xét trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị để xảy ra hành vi tiêu cực.
Bộ Tài chính khẩn trương nghiên cứu, kiến nghị sửa đổi hoặc sửa đổi theo thẩm quyền và hoàn thành trong Quý III kiến nghị sửa đổi quy định tại Điều 12 Nghị định 134/2016/NĐ-CP ngày 1/9/2016 theo hướng miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên phụ liệu đưa đi gia công tại cơ sở sản xuất khác và đối với hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu bị tiêu hủy, trên cơ sở bình đẳng giữa loại hình sản xuất xuất khẩu và loại hình gia công.
Xây dựng, ban hành Thông tư sửa đổi các Thông tư quy định một số mức phí và lệ phí trong công tác thú y, khai thác thủy sản và quản lý chất lượng an toàn thực phẩm (Thông tư 230/2016/TT-BTC, số 279/2016/TT-BTC, số 285/2016/TT-BTC, số 286/2016/TT-BTC) bảo đảm hợp lý, giảm chi phí cho doanh nghiệp.
Tiếp tục hoàn thiện danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam (ban hành kèm theo Thông tư 65/2017/TT-BTC ngày 27/6/2017) để tạo sự thống nhất, minh bạch và hạn chế tiêu cực trong việc áp mã HS); giải quyết vướng mắc về phí cân bằng container (CIC), phí chứng từ (D/O), phí vệ sinh container quy định tại Công văn 1237/TCHQ-TXNK ngày 8/3/2018 của Tổng cục Hải quan để bảo đảm phù hợp thẩm quyền, cơ sở pháp lý và thực tiễn.
Hoàn thiện hệ thống công nghệ thông tin liên quan đến việc thực hiện các thủ tục hành chính về thuế, hải quan để khắc phục tình trạng thiếu đồng bộ, quá tải, lỗi hệ thống xảy ra trong thời gian qua và hạn chế việc tiếp xúc trực tiếp giữa người dân, doanh nghiệp với cán bộ, công chức cơ quan thuế, hải quan. Phối hợp với Văn phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan kết nối, chia sẻ thông tin giữa Hệ thống thông tin của Bộ Tài chính với Cổng Dịch vụ công quốc gia trong việc thực hiện thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của Bộ Tài chính, đặc biệt là lĩnh vực thuế, hải quan.
Bộ Tài chính chỉ đạo các đơn vị Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thuế, các Cục Hải quan, Cục Thuế tăng cường quản lý cán bộ, công nhân viên, kiểm tra xử lý vi phạm nghiêm túc, đưa ra khỏi ngành những cán bộ vi phạm kịp thời hơn.
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi quản lý ngành, lĩnh vực rà soát, giải quyết vướng mắc của doanh nghiệp theo thẩm quyền, chấn chỉnh việc giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến xuất nhập khẩu, kiểm tra chuyên ngành và phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính trong việc triển khai Cơ chế một cửa quốc gia, một cửa ASEAN.
-----------
Danh mục và lộ trình thiết bị sử dụng năng lượng phải loại bỏ
Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã ký Quyết định số 24/2018/QĐ-TTg ban hành Danh mục và lộ trình phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng phải loại bỏ và các tổ máy phát điện hiệu suất thấp không được xây dựng mới.
Theo đó, từ ngày 10/7/2018, không cho phép nhập khẩu và sản xuất, kinh doanh các thiết bị có mức hiệu suất năng lượng không đáp ứng mức hiệu suất năng lượng tối thiểu trong tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) như: Bóng đèn huỳnh quang compact TCVN 7896:2008; bóng đèn huỳnh quang ống thẳng TCVN 8249:2009; tủ lạnh, tủ kết đông lạnh TCVN 7828:2013; máy điều hòa không khí không ống gió TCVN 7830:2015; máy giặt gia dụng TCVN 8526:2010; máy thu hình TCVN 9536:2012; nồi cơm điện TCVN 8252:2009; màn hình máy tính TCVN 9508:2012; máy biến áp phân phối TCVN 8525:2010;...
Không cho phép nhập khẩu, sản xuất và kinh doanh sau 2 năm kể từ ngày 10/7/2018 đối với các thiết bị có mức hiệu suất năng lượng không đáp ứng mức hiệu suất năng lượng tối thiểu trong TCVN như: Bóng đèn huỳnh quang compact TCVN 7896:2015; bóng đèn huỳnh quang ống thẳng TCVN 8249:2013; tủ lạnh, tủ kết đông lạnh TCVN 7828:2013; máy điều hòa không khí không ống gió TCVN 7830:2015; máy giặt gia dụng TCVN 8526:2013; máy thu hình TCVN 9536:2012; nồi cơm điện TCVN 8252:2015; màn hình máy tính TCVN 9508:2012; động cơ điện không đồng bộ ba pha roto lồng sóc TCVN 7540-1:2013;...
Từ ngày 10/7/2018, không cho phép xây dựng mới tổ máy phát điện bằng than, khí công nghệ lạc hậu, có hiệu suất tại thời điểm bắt đầu đưa vào vận hành thương mại thấp hơn hiệu suất quy định tương ứng với từng dải công suất của tổ máy theo quy định; không cho phép nhập khẩu thiết bị cũ, lạc hậu đối với các tổ máy phát điện có công suất nằm ngoài các dải công suất quy định; không phê duyệt chủ trương đầu tư các nhà máy nhiệt điện phát điện bằng than, khí đốt có hiệu suất năng lượng thấp hơn hiệu suất quy định tương ứng với dải công suất của tổ máy phát điện theo quy định./.