Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/4

7:44 PM, 05/04/2021

Gỡ khó cho doanh nghiệp bị thiệt hại do hỏa hoạn

Chính phủ ban hành Nghị quyết xử lý thuế hàng hóa nhập khẩu bị thiệt hại do hỏa hoạn của Công ty trách nhiệm hữu hạn Vina Korea.

Theo đó, Chính phủ chấp thuận điều kiện Giấy chứng nhận giám định của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định được lập quá 30 ngày kể từ ngày xảy ra vụ hỏa hoạn đối với hồ sơ giảm thuế của Công ty trách nhiệm hữu hạn Vina Korea tại khoản 2 Điều 32 của Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 1/9/2016 của Chính phủ.

Chính phủ giao Bộ Tài chính xử lý cụ thể theo quy định pháp luật hiện hành.

* Bộ Tài chính cho biết, năm 2018 Công ty Vina Korea bị hỏa hoạn lớn với giá trị thiệt hại lên đến 400 tỷ đồng. Đây là doanh nghiệp may mặc với hơn 4000 lao động. Công ty thuộc đối tượng giảm thuế nhập khẩu theo quy định tại Điều 32 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP, tuy nhiên, do Giấy chứng nhận giám định được lập quá 30 ngày kể từ ngày xảy ra hỏa hoạn (do vụ cháy lớn mang tính chất phức tạp, đòi hỏi công ty giám định độc lập phải tốn rất nhiều thời gian xác định giá trị tổn thất công ty). Vì vậy, công ty không đáp ứng quy định về thủ tục (thời hạn 30 ngày theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị định 134/2016/NĐ-CP) nên không được giảm thuế. Để xử lý vướng mắc và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19, Bộ Tài chính đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép công ty được giảm thuế theo Giấy chứng nhận lập quá thời hạn 30 ngày.

Ngoài ra, để tránh phát sinh trường hợp tương tự và bao quát được thực tế, Bộ Tài chính cũng đã đề xuất bỏ quy định về thời hạn 30 ngày phải lập các chứng từ tại khoản 2 Điều 32 Nghị định 134/2016/NĐ-CP.

Thủ tướng phê duyệt Đề án trồng 1 tỷ cây xanh

Đến hết năm 2025, cả nước trồng được một tỷ cây xanh, trong đó 690 triệu cây trồng phân tán ở các khu đô thị và vùng nông thôn, 310 triệu cây trồng tập trung trong rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và trồng mới rừng sản xuất, nhằm góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, cải thiện cảnh quan và ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển kinh tế xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân và sự phát triển bền vững của đất nước.

Đó là muc tiêu của Đề án trồng một tỷ cây xanh giai đoạn 2021 - 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Đề án nêu rõ, phát triển cây xanh cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Phát huy truyền thống trồng cây do Bác Hồ khởi xướng, đưa việc trồng cây xanh thực sự trở thành phong trào thi đua thiết thực, hiệu quả của các cấp, các ngành, trong từng khu dân cư với sự tham gia tích cực của mọi người dân, tránh thực hiện phô trương, hình thức; là hành động thiết thực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Tăng cường xã hội hóa, thu hút mọi nguồn lực từ các thành phần kinh tế và lồng ghép các chương trình phát triển kinh tế xã hội để trồng một tỷ cây xanh. Trong đó, ngoài trồng rừng tập trung, cần tăng tỷ lệ trồng cây xanh phân tán tại các vùng nông thôn, khu vực đô thị, đường giao thông, công trình hạ tầng đô thị, công trình giáo dục, y tế, văn hóa, nhà máy, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu văn hóa, lịch sử... bảo đảm tỷ lệ cây xanh theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.

Trồng cây xanh phải đi đôi với chăm sóc, bảo vệ, quản lý, giám sát để bảo đảm cây trồng, rừng trồng sinh trưởng và phát triển tốt.

Trồng 690 triệu cây xanh phân tán khu vực đô thị và nông thôn

Nhiệm vụ của Đề án là trồng thành công một tỷ cây xanh phù hợp với điều kiện sinh thái, quy hoạch và quỹ đất hiện có của từng địa phương, trong đó, trồng  690 triệu cây cây xanh phân tán (khu vực đô thị và nông thôn), bình quân trồng 138 triệu cây/năm.

Chọn loài cây trồng phù hợp với mục đích, cảnh quan và điều kiện sinh thái, tập quán canh tác của từng địa phương, từng khu vực cụ thể; ưu tiên trồng cây bản địa, thân gỗ, đa mục đích, có giá trị bảo vệ môi trường, tác dụng phòng hộ cao, cây quý, hiếm, mang bản sắc văn hóa địa phương/vùng/miền.

Tại khu vực đô thị, cây xanh được trồng trên vỉa hè đường phố, công viên, vườn hoa, quảng trường; trong khuôn viên các trụ sở, trường học, bệnh viện, nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp, khu chế xuất, các công trình tín ngưỡng, vườn nhà và các công trình công cộng khác.

Tại khu vực nông thôn, cây xanh được trồng trên đất vườn nhà, hành lang giao thông, ven sông, kênh, mương, bờ vùng, bờ thửa, nương rẫy; trong khuôn viên các trụ sở, trường học, bệnh viện, nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp, khu chế xuất, các công trình tín ngưỡng và các công trình công cộng khác; kết hợp phòng hộ trong khu canh tác nông nghiệp và các mảnh đất nhỏ phân tán; các khu vực có nguy cơ sạt lở cao, đất bị suy thoái, sa mạc hóa, bãi thải khai thác khoáng sản và đất chưa sử dụng khác.

Trồng 310 triệu cây xanh trong rừng

Cũng theo Đề án, trồng cây xanh trong rừng tập trung. Cụ thể, trồng 180 nghìn ha rừng trồng tập trung, tương đương khoảng 310 triệu cây (bình quân trồng 36 nghìn ha rừng/năm, tương đương 62 triệu cây/năm), gồm: Trồng rừng phòng hộ, đặc dụng: 30 nghìn ha, tương đương 70 triệu cây (bình quân 6 nghìn ha/năm, tương đương 14 triệu cây/năm); trồng mới rừng sản xuất: 150 nghìn ha, tương đương 240 triệu cây (bình quân 30 nghìn ha/năm, tương đương 48 triệu cây/năm).

Đối với rừng đặc dụng, trồng các loài cây bản địa có phân bố tự nhiên trong hệ sinh thái của rừng đặc dụng đó; đối với rừng phòng hộ, trồng các loài cây có bộ rễ sâu bám chắc, ưu tiên cây bản địa, sinh trưởng được trong điều kiện khắc nghiệt và có khả năng chống chịu tốt; đối với rừng sản xuất, trồng các loài cây có năng suất, chất lượng cao, khuyến khích sử dụng các giống cây sản xuất bằng mô, hom, kết hợp trồng cây gỗ nhỏ mọc nhanh và cây gỗ lớn dài ngày.

Về địa điểm trồng, với đất rừng phòng hộ, diện tích đất quy hoạch cho phát triển rừng phòng hộ, trong đó đặc biệt ưu tiên trồng rừng phòng hộ đầu nguồn và trồng rừng phòng hộ vùng ven biển.

Với đất rừng đặc dụng, diện tích đất chưa có rừng, chưa đủ tiêu chí thành rừng trong phân khu phục hồi sinh thái và phân khu dịch vụ, hành chính của rừng đặc dụng là vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh và khu bảo vệ cảnh quan; diện tích đất được quy hoạch trồng mới rừng sản xuất.

Về kế hoạch thực hiện, năm 2021 sẽ trồng khoảng 182 triệu cây, trong đó, cây xanh phân tán 120 triệu cây, tăng 1,5 lần so với năm 2020.

Từ năm 2022 - 2025, trồng bình quân 204,5 triệu cây/năm, trong đó, cây xanh phân tán 142,5 triệu cây, tăng 1,8 lần so với năm 2020.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan liên quan xây dựng cụ thể kế hoạch 5 năm và hằng năm.

Vì một Việt Nam xanh

Tháng 11/2020, phát biểu tại Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ đề xuất sáng kiến trồng mới 01 tỷ cây xanh trong 5 năm 2021-2025. Ngày 31/12/2020, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Chỉ thị số 45/CT-TTg về tổ chức phong trào “Tết trồng cây” và tăng cường công tác bảo vệ, phát triển rừng ngay từ đầu năm 2021.

Góp phần hiện thực hóa các chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, nhằm tuyên truyền cho người dân, doanh nghiệp nhận thức rõ hơn về vai trò, lợi ích lâu dài của phát triển bền vững, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ đã đẩy mạnh thông tin-truyền thông về chương trình trồng mới 1 tỷ cây xanh, phối hợp với một số địa phương như Bến Tre, Phú Yên tổ chức phát động hưởng ứng sáng kiến của Thủ tướng Chính phủ.

Thủ tướng Chính phủ  đã ghi nhận, biểu dương và gửi Thư khen Cổng Thông tin điện tử Chính phủ và tỉnh Bến Tre - địa phương đầu tiên tổ chức phát động hưởng ứng sáng kiến của Thủ tướng vào ngày 2/1/2021. Ngày 20/2, tham dự lễ phát động Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ xuân Tân Sửu năm 2021 tại Phú Yên, hưởng ứng chương trình trồng mới 1 tỷ cây xanh, Thủ tướng đã đề nghị chính thức chọn thông điệp cho chương trình trồng mới 1 tỷ cây xanh là “Vì một Việt Nam xanh”.

Thời gian tới, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan báo chí-truyền thông tiếp tục đẩy mạnh truyền thông về chương trình trồng mới 1 tỷ cây xanh với tác động tích cực, lâu dài, có ý nghĩa nhiều mặt, góp phần thúc đẩy, lan tỏa phong trào trồng cây xanh tới các địa phương trên cả nước, giúp nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và người dân cả nước để tiếp tục có nhiều cách làm sáng tạo, hiệu quả, huy động được nhiều nguồn lực trong việc trồng cây, trồng rừng, phục hồi và bảo vệ thiên nhiên theo tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ: “Mỗi người trồng và chăm sóc ít nhất một cây xanh, mỗi nhà góp một mảng xanh, mỗi khu dân cư góp một vùng xanh để đất nước ta ngày càng xanh, phát triển nhanh và bền vững, cùng chung tay chăm lo cho cuộc sống của nhân dân tốt đẹp hơn, đóng góp thiết thực vào việc bảo vệ Trái đất - ngôi nhà chung của nhân loại”.

Thay đổi thành viên UBQG phòng, chống AIDS, ma túy, mại dâm

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định thay đổi, bổ sung thành viên Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm.

Cụ thể, ông Nguyễn Thanh Long, Bộ trưởng Bộ Y tế làm Phó Chủ tịch Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm thay bà Nguyễn Thị Kim Tiến.

Ông Đỗ Xuân Tuyên, Thứ trưởng Bộ Y tế làm Ủy viên Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn, ma túy, mại dâm.

Lãi suất vay ưu đãi mua nhà ở xã hội 4,8%/năm

Theo Quyết định số 532/QĐ-TTg, mức lãi suất cho vay ưu đãi tại Ngân hàng Chính sách xã hội áp dụng đối với các khoản vay có dư nợ để mua, thuê mua nhà ở xã hội, xây dựng mới hoặc cải tạo sửa chữa nhà để ở theo quy định tại Điều 16 của Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 là 4,8%/năm.

Quyết định trên có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/4/2021 đến ngày 01/01/2023.

Trước đó, ngày 13/8/2020, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định 1232/QĐ-TTg quy định mức lãi suất cho vay ưu đãi của Ngân hàng Chính sách xã hội áp dụng đối với các khoản vay có dư nợ trong năm 2020 để mua, thuê mua nhà ở xã hội; xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà để ở là 4,8%/năm.

Nghiên cứu “Vaccine ngừa sốt giá đất”

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu bài viết “Vaccine ngừa sốt giá đất”: Cần chính sách hỗ trợ nhà đầu tư” đăng trên Báo Diễn đàn doanh nghiệp ngày 25/3/2021.

Báo Diễn đàn doanh nghiệp ngày 25/3/2021 có bài “Vaccine ngừa sốt giá đất”: Cần chính sách hỗ trợ nhà đầu tư” có phản ánh: Đã có những lo ngại giá bất động sản "bong bóng", song không cần quá lo lắng về vấn đề mức giá mà nên có hành lang pháp lý để quản lý tài nguyên này theo đúng yêu cầu thị trường. WB đánh giá, trong quản trị đất đai, Việt Nam thuộc nhóm tốt về xây dựng pháp luật nhưng lại thuộc nhóm yếu kém về thực thi pháp luật. Nhiều quyết định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn thiếu khả thi, tình trạng quy hoạch “treo” ở nhiều nơi, việc chưa quản lý các thửa đất không có giấy tờ tạo kẽ hở cho “nhóm lợi ích” tiêu cực tham nhũng, trục lợi...

Về việc này, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu, đánh giá trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao.

Xử lý tình trạng chiếm đất ven sông Hồng

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và các cơ quan liên quan xử lý tình trạng chiếm đất ven sông Hồng.

Báo Diễn đàn doanh nghiệp ngày 28/3/2021 có bài viết: “Nhức nhối tình trạng chiếm đất ven sông Hồng”, trong đó phản ánh: Đề án Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng hứa hẹn tạo ra sự chuyển mình cho thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, có một thực trạng khiến dư luận vô cùng quan ngại khi nhiều địa phương trên địa bàn đang để tình trạng chiếm dụng đất ven vùng quy hoạch, không chỉ đe dọa lợi ích phát triển kinh tế - xã hội, chỉnh trang đô thị mà còn tiềm ẩn nguy cơ rủi ro trong công tác phòng, chống lũ lụt.

Về việc này, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và các cơ quan liên quan nghiên cứu, xử lý.

Cần xây dựng dữ liệu quốc gia về giá đất

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Bộ Xây dựng và các cơ quan liên quan nghiên cứu bài viết “Chống sốt ảo phải xây dựng dữ liệu giá đất quốc gia”.

Báo điện tử Sài Gòn Giải phóng ngày 29/3/2021 có bài viết: “Chống sốt ảo phải xây dựng dữ liệu giá đất quốc gia”. Bài viết phản ánh: Theo Chủ tịch Hội môi giới bất động sản Việt Nam, tình trạng sốt ảo bất động sản phần lớn do nhiễu loạn thông tin. Khi có thông tin về quy hoạch hạ tầng, đô thị… ngay lập tức bị giới đầu cơ lợi dụng để tung tin, thổi giá. Do đó, biện pháp cần làm là phải xây dựng được dữ liệu quốc gia về giá đất, Nhà nước mới kiểm soát và điều tiết thị trường bất động sản, đưa về đúng giá trị thực.

Về việc này, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Bộ Xây dựng và các cơ quan liên quan nghiên cứu, xử lý.

Cần cơ chế, chính sách phù hợp cho mặt hàng chế biến gỗ

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu phản ánh của Vietnamplus liên quan đến mặt hàng chế biến gỗ.

Ngày 25/3/2021, Báo điện tử Vietnam+ (Vietnamplus) phản ánh: Theo đại diện tổ chức Forest Trends, mặt hàng chế biến gỗ có rủi ro về lẩn tránh thuế nhập khẩu từ Mỹ bởi tình trạng đầu tư chui, núp bóng. Hiện các doanh nghiệp FDI đang vượt trội các doanh nghiệp nội. Để tạo thực thể thống nhất giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước cần môi trường cơ chế, chính sách phù hợp và nên cho phép doanh nghiệp FDI là thành viên chính thức của các hiệp hội gỗ, qua đó, các ý kiến của doanh nghiệp FDI được lắng nghe để có chính sách bao quát hơn.

Về việc này, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu, xử lý.

Hà Nội cần chú trọng phát triển các khu đô thị mới

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu Hà Nội tăng cường công tác tổ chức thực thi pháp luật, nâng cao hiệu quả quản trị xã hội, quản lý đô thị, phát triển đô thị - kinh tế đô thị. Chú trọng phát triển các khu đô thị mới để vừa tạo động lực phát triển vừa giãn dân, đặc biệt phát triển nhà ở xã hội và xây dựng cải tạo chung cư cũ.

Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại buổi làm việc với lãnh đạo thành phố Hà Nội.

Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đánh giá cao, biểu dương nỗ lực của các đồng chí Lãnh đạo, cấp ủy đảng, chính quyền, quân, dân Thủ đô và những thành tựu quan trọng đã đạt được trong những năm qua và 3 tháng đầu năm 2021, đóng góp tích cực, quan trọng vào thành công chung của cả nước. Kinh tế - xã hội của Hà Nội giai đoạn 2016 - 2020 phát triển khá toàn diện, GRDP bình quân đạt 6,68% (cao hơn mức tăng của cả nước). Xây dựng nông thôn mới hoàn thành sớm 2 năm so với mục tiêu đề ra (96,3% xã đạt chuẩn nông thôn mới với 13 huyện và 368 xã)...

Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục như: Tiến độ triển khai một số dự án hạ tầng kỹ thuật thiết yếu còn chậm; quy hoạch và phát triển các đô thị vệ tinh, phát triển nhà ở xã hội, cải tạo chung cư cũ chưa đạt tiến độ; công tác quản lý trật tự xây dựng, đất đai, đô thị, môi trường có lúc, có nơi chưa đáp ứng yêu cầu, để phát sinh nhiều vụ việc phức tạp, nổi cộm, chậm được xử lý, gây bức xúc dư luận; việc xử lý úng ngập, ùn tắc giao thông còn nhiều thách thức;...

Trong thời gian tới, để tạo chuyển biến toàn diện, mạnh mẽ trên các lĩnh vực, xây dựng và phát triển Hà Nội xứng đáng với vai trò, vị thế Thủ đô "trái tim của cả nước", Thủ tướng yêu cầu Thành phố Hà Nội cần chú trọng một số giải pháp.

Trong đó, tiếp tục nỗ lực phát huy các tiềm năng, lợi thế, phát triển Hà Nội là thành phố giàu đẹp, xanh, sạch, có bản sắc và kỷ cương, văn minh, thanh lịch; xây dựng thành phố thông minh, năng động và hội nhập, thành phố kiến tạo, môi trường kinh doanh thuận lợi, môi trường sống hướng đến các tiêu chuẩn OECD - một thành phố đáng sống của mọi người dân và bạn bè quốc tế. Một thành phố an toàn tuyệt đối trong biến đổi thời tiết cực đoan.

Đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị đồng bộ, hiện đại, là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa Việt Nam hài hòa với giá trị văn hóa nhân loại tiến bộ; chú trọng đầu tư vào hoạt động bảo tồn, tôn tạo, giữ gìn và phát huy các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, đặc biệt khu Di sản thế giới Hoàng thành Thăng Long, gắn văn hóa với phát triển kinh tế và du lịch.

Điều chỉnh tổng thể quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn 2050 gắn với Vùng Thủ đô để phát triển đô thị vệ tinh hấp dẫn, trong đó, lấy trục không gian xanh sông Hồng làm trung tâm phát triển, phát triển cân đối, hài hòa hai bên trục sông Hồng và phía Bắc sông Hồng trở thành đô thị hiện đại, hạ tầng đồng bộ, trở thành Trung tâm tài chính quốc tế của khu vực và thế giới.

Tập trung huy động cả hệ thống chính trị và nhân dân để cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVII và 10 chương trình hành động toàn khóa nhiệm kỳ 2020 - 2025. Đi đầu thực hiện Nghị quyết 01, 02 năm 2021 của Chính phủ. Chuẩn bị tốt công tác bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Khẩn trương trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Nhiệm vụ quy hoạch thành phố thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050.

Tiên phong thực hiện "mục tiêu kép"

Thông báo nêu rõ, thành phố Hà Nội cần tiên phong thực hiện "mục tiêu kép", vừa phòng chống dịch, vừa phục hồi phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống nhân dân. Tuyên truyền, vận động người dân thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch theo khuyến cáo "5K + Vắc xin". Phát huy hiệu quả hoạt động của các tổ giám sát COVID-19 cộng đồng. Phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế để triển khai tiêm chủng vắc-xin ngừa COVID-19 an toàn, hiệu quả.

Cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng dựa trên ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo gắn với thực hiện đồng bộ 3 đột phá chiến lược. Đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách; tăng cường công tác tổ chức thực thi pháp luật, nâng cao hiệu quả quản trị xã hội, quản lý đô thị, phát triển đô thị - kinh tế đô thị. Chú trọng phát triển các khu đô thị mới để vừa tạo động lực phát triển vừa giãn dân, đặc biệt phát triển nhà ở xã hội và xây dựng cải tạo chung cư cũ.

Đẩy mạnh xây dựng hoàn thành các chỉ tiêu về xây dựng Chính phủ điện tử, chính quyền điện tử, cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thực hiện dịch vụ công trực tuyến. Có giải pháp quyết liệt để tăng điểm, tăng thứ hạng Chỉ số Hiệu quả và quản trị hành chính công cấp tỉnh (PAPI) và Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính (SIPAS). Tạo chuyển biến mạnh mẽ về kỷ luật, kỷ cương, ý thức, trách nhiệm, chất lượng, hiệu quả phục vụ doanh nghiệp và nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức để xứng đáng là cán bộ của Thủ đô ngàn năm văn hiến.

Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng xây dựng Thủ đô thành nơi đáng sống. Đề cao ý thức, trách nhiệm, đạo đức xã hội, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Đưa văn hóa và con người Hà Nội thực sự trở thành giá trị tinh thần to lớn, nguồn lực quan trọng quyết định phát triển Thủ đô.

Phát triển EVN thành Tập đoàn kinh tế mạnh

Theo Chiến lược phát triển Tập đoàn Điện lực Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) sẽ phát triển thành Tập đoàn kinh tế mạnh, kinh doanh bền vững, hiệu quả. Tập đoàn hoạt động theo cơ chế thị trường; cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác theo quy định của pháp luật.

Mục tiêu đề ra của EVN là kết quả sản xuất kinh doanh hàng năm có hiệu quả và có lãi; bảo toàn và phát triển vốn chủ sở hữu nhà nước đầu tư tại EVN và vốn của EVN đầu tư vào các doanh nghiệp khác. Hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu nhỏ hơn 3 lần. Tỷ lệ tự đầu tư lớn hơn 30%. Khả năng thanh toán ngắn hạn lớn hơn hoặc bằng 1 lần.

Chuyển đổi thành doanh nghiệp số

Về cung cấp điện, EVN chịu trách nhiệm chính trong việc đảm bảo điện cho nền kinh tế và đời sống nhân dân theo chỉ tiêu quy định trong các Quy hoạch phát triển điện quốc gia từng giai đoạn do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; xây dựng hệ thống lưới điện thông minh, hiệu quả, đồng bộ với nguồn điện và cung cấp cho các phụ tải, có khả năng kết nối khu vực; bảo đảm cung cấp điện an toàn, ổn định.

Đảm bảo cung cấp điện cho nhân dân các vùng sâu, vùng xa, hải đảo bằng điện lưới và nguồn điện tại chỗ; phấn đấu giảm tổn thất điện năng về mức ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực ASEA

Đồng thời, nâng cao hiệu quả ứng dụng khoa học công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4; đến năm 2025, EVN hoàn thành chuyển đổi thành doanh nghiệp số.

Nâng cao chất lượng phân phối điện năng và dịch vụ khách hàng; hiện đại hóa và chuyên nghiệp hóa công tác kinh doanh và dịch vụ khách hàng. Phấn đấu đến năm 2025 trở đi nằm trong nhóm các nước ASEAN-3 về dịch vụ khách hàng và duy trì vị trí này trong suốt giai đoạn đến 2045.

Phát triển hệ thống điện phải đồng bộ, hợp lý từ sản xuất - truyền tải - phân phối kinh doanh

Theo định hướng đến năm 2045, EVN đầu tư phát triển nguồn và lưới điện theo quy hoạch được duyệt đảm bảo chất lượng, tiến độ và hiệu quả. Đầu tư phát triển hệ thống điện phải đảm bảo đồng bộ và hợp lý từ sản xuất - truyền tải - phân phối kinh doanh điện năng, có khả năng tích hợp quy mô lớn nguồn năng lượng tái tạo. Tiếp cận công nghệ tiên tiến để đảm bảo an toàn, tin cậy, bảo vệ môi trường. Rà soát tổng thể và có kế hoạch sớm triển khai nâng cấp công nghệ của các nhà máy điện than hiện có để đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường, phù hợp với điều kiện cụ thể ở từng giai đoạn.

Vận hành hệ thống điện và thị trường điện an toàn, tin cậy, hợp lý, đáp ứng các quy định về điều kiện của các cấp độ thị trường điện Việt Nam. Đảm bảo chi phí sản xuất và chi phí mua điện hợp lý, thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường điện.

Cải tiến công tác kinh doanh và dịch vụ khách hàng, hướng tới việc cung cấp dịch vụ khách hàng ngày càng hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, trở thành doanh nghiệp có khâu kinh doanh và dịch vụ khách hàng chuyên nghiệp, hiện đại.

Đảm bảo tình hình tài chính của EVN lành mạnh, bảo toàn và phát triển vốn nhà nưởc đầu tư tại EVN và vốn của EVN đầu tư tại các doanh nghiệp khác; đủ khả năng thu xếp vốn đầu tư cho nhu cầu đầu tư nguồn và lưới điện theo kế hoạch.

Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Tập đoàn đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng dịch vụ, nắm bắt công nghệ; xây dựng nguồn nhân lực có phẩm chất phù hợp với giá trị cốt lõi của EVN; thúc đẩy năng lực sáng tạo phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững, quá trình hiện đại hoá, hội nhập quốc tế của Tập đoàn.

Nâng cao năng lực khoa học công nghệ của Tập đoàn, không ngừng nghiên cứu, tiếp nhận, chuyển giao công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực điện lực; nghiên cứu, ứng dụng có hiệu quả thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong hoạt động sản xuất kinh doanh của EVN, chú trọng nâng cao hiệu suất, tiết kiệm năng lượng; đảm bảo an toàn, an ninh thông tin cho các hệ thống thông tin của EVN.

Bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu với bước đi phù hợp trong từng giai đoạn, dựa vào nội lực của EVN là chính, đồng thời phát huy hiệu quả của các nguồn lực bên ngoài…

Phấn đấu tăng trưởng khu vực dịch vụ 7%-8%

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Chiến lược tổng thể phát triển khu vực dịch vụ của Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 với mục tiêu cụ thể của Chiến lược là tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ thời kỳ 2021 - 2030 đạt khoảng 7 - 8%, cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Đến năm 2030, tỷ trọng của khu vực dịch vụ chiếm khoảng 50% GDP.

Trong thời kỳ 2030 - 2050, khu vực dịch vụ tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao hơn  tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế, chiếm tỷ trọng khoảng 60% GDP.

Đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành dịch vụ

Định hướng chung của Chiến lược là đẩy mạnh cải cách thể chế, nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của các ngành dịch vụ trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 và Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Bên cạnh đó, đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành dịch vụ dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại, ứng dụng các thành tựu của Cách mạng công nghiệp 4.0, nhất là trong các lĩnh vực dịch vụ như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, y tế, giáo dục, giao thông vận tải, logistics, thương mại, du lịch... Duy trì tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP; tăng dần tỷ trọng dịch vụ trong GDP.

Tập trung phát triển một số ngành, sản phẩm dịch vụ có hàm lượng tri thức và công nghệ cao, có lợi thế cạnh tranh như: phân phối, du lịch, công nghệ thông tin, tài chính - ngân hàng, logistics, giáo dục đào tạo, y tế,... Đồng thời, hình thành một số trung tâm dịch vụ du lịch với sản phẩm du lịch chất lượng cao, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, có năng lực cạnh tranh tầm khu vực và quốc tế.

Tiếp tục huy động các nguồn vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế trong và ngoài nước để nâng cấp, xây dựng mới kết cấu hạ tầng, trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại nhằm tạo thuận lợi cho phát triển dịch vụ. Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước cần được ưu tiên bố trí cho việc phát triển, củng cố, nâng cấp, hiện đại hóa có trọng điểm kết cấu hạ tầng quan trọng như: giao thông, cảng hàng không, cảng biển, viễn thông, du lịch, tài chính, ngân hàng.

Mở cửa thị trường dịch vụ theo các cam kết quốc tế, tăng cường công tác vận động, xúc tiến đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ; khảo sát, đánh giá năng lực cạnh tranh của từng lĩnh vực dịch vụ hiện tại và trong tương lai.

Định hướng phát triển theo vùng lãnh thổ

Chiến lược cũng đề ra định hướng phát triển khu vực dịch vụ theo vùng lãnh thổ. Cụ thể, với vùng đồng bằng, tích cực ứng dụng khoa học, công nghệ, phát triển mạnh các ngành dịch vụ, đặc biệt là nhóm ngành dịch vụ ưu tiên và các dịch vụ phục vụ sản xuất kinh doanh, dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe và an sinh xã hội. Hình thành các trung tâm dịch vụ lớn mang tầm khu vực và thế giới về thương mại, du lịch, tài chính, logistics tại các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh và Cần Thơ... Tăng cường tính kết nối của các trung tâm dịch vụ lớn và trung tâm dịch vụ trên các tuyến hành lang kinh tế khu vực như: Hành lang mới về thương mại đường bộ, đường biển quốc tế (từ thành phố Trùng Khánh của Trung Quốc tới Singapore; hành lang kinh tế Đông - Tây, hành lang kinh tế phía Nam...).

Vùng trung du miền núi phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hóa để phát huy giá trị các tài nguyên thiên nhiên, các di tích lịch sử, đặc thù văn hóa các dân tộc của vùng. Phát triển du lịch nghỉ dưỡng ở các địa điểm có điều kiện khí hậu phù hợp. Chú trọng phát triển hạ tầng, khai thác các lợi thế về kinh tế cửa khẩu để phát triển các ngành dịch vụ phân phối, du lịch.

Vùng biển, ven biển và hải đảo phát triển các ngành dịch vụ, nhất là các ngành có tiềm năng, lợi thế và giá trị gia tăng cao gắn với vị trí địa lý như du lịch, vận tải biển, logistics, dịch vụ liên quan đến khai thác dầu khí, dịch vụ hậu cần nghề cá. Phát triển hạ tầng và ứng dụng công nghệ cao trong đầu tư xây dựng và quản lý, vận hành các cảng biển, hệ thống giao thông kết nối cảng biển, các khu du lịch biển chất lượng cao, mang tầm quốc gia và khu vực. Hình thành các trung tâm logistics lớn tại Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Cần Thơ. Gắn phát triển ngành dịch vụ ở vùng biển, ven biển và hải đảo với bảo vệ vững chắc an ninh, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải. Phát triển mạnh mẽ dịch vụ nghề cá và phát triển hạ tầng dịch vụ cho các đảo, nhất là các đảo có vị trí quan trọng về kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng.

Công nhận xã Thạnh An, huyện Cần Giờ là xã đảo

Thủ tướng Chính phủ vừa công nhận xã Thạnh An, huyện Cần Giờ thuộc Thành phố Hồ Chí Minh là xã đảo.

Xã Thạnh An được thực hiện chính sách ưu đãi đối với xã đảo theo các quy định hiện hành.

Quyết định này có hiệu lực từ ngày 01/7/2021.

Đầu tư hạ tầng KCN và khu phi thuế quan Xuân Cầu

Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp và khu phi thuế quan Xuân Cầu.

Dự án trên có quy mô 752 ha được thực hiện tại khu vực Cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện, Khu kinh tế Đình Vũ – Cát Hải do Công ty cổ phần đầu tư Xuân Cầu – Lạch Huyện làm chủ đầu tư.

Thủ tướng Chính phủ giao UBND thành phố Hải Phòng chỉ đạo các quan liên quan và nhà đầu tư, bổ sung đánh giá toàn diện và đề xuất giải pháp khả thi đối với hoạt động lấn biển, tuân thủ quy định của pháp luật về hành lang bảo vệ bờ biển, đảm bảo phát triển bền vững, tránh các tác động tiêu cực đến an sinh xã hội, môi trường sinh thái, chế độ dòng chảy trong khu vực

UBND thành phố Hải Phòng chỉ đạo Ban quản lý khu kinh tế Hải Phòng và các cơ quan có liên quan giám sát, đánh giá việc triển khai Dự án, trong đó có việc góp vốn và huy động vốn đầu tư của Nhà đầu tư theo quy định của pháp luật; tăng cường công tác theo dõi, giám sát việc tuân thủ quy định của pháp luật về môi trường trong quá trình xây dựng, vận hành các công trình, đáp ứng kịp thời yêu cầu môi trường trong từng giai đoạn phát triển của Dự án.

Đồng thời, giám sát việc tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ hành lang bờ biển, khai thác, sử dụng tài nguyên hải đảo; tài nguyên nước. Xây dựng phương án phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước theo quy định của pháp luật về tài nguyên nước đối với việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước và xả thải vào nguồn nước…

Xây dựng lâm nghiệp thành ngành kinh tế - kỹ thuật hiện đại

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Mục tiêu tổng quát nhằm xây dựng ngành lâm nghiệp thực sự trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật; thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững rừng và diện tích đất được quy hoạch cho lâm nghiệp; đảm bảo sự tham gia rộng rãi, bình đẳng của các thành phần kinh tế vào các hoạt động lâm nghiệp, huy động tối đa các nguồn lực xã hội; ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại. Phát huy tiềm năng, vai trò và tác dụng của rừng để lâm nghiệp đóng góp ngày càng quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, an ninh nguồn nước, giảm nhẹ thiên tai, ứng phó chủ động và hiệu quả với biến đổi khí hậu, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học, cung cấp đa dạng các loại hình dịch vụ môi trường rừng, tạo việc làm và thu nhập cho người dân, giữ vững quốc phòng và an ninh, thực hiện thành công các mục tiêu quốc gia về phát triển bền vững. Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Phấn đấu trở thành trung tâm thương mại lâm sản hàng đầu của thế giới

Chiến lược phấn đấu đến năm 2050, ngành lâm nghiệp thực sự trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, có sức cạnh tranh cao; phát huy hiệu quả tiềm năng và lợi thế của tài nguyên rừng nhiệt đới; công nghệ hiện đại và thân thiện môi trường; tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ đa dạng, giá trị gia tăng cao, tham gia sâu rộng trong chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu; đóng góp ngày càng nhiều cho sự phát triển bền vững đất nước.

Về kinh tế: Phát triển lâm nghiệp bền vững, hội nhập quốc tế, phát huy hiệu quả tiềm năng và lợi thế của tài nguyên rừng nhiệt đới, phấn đấu trở thành một trong những trung tâm sản xuất, chế biến và thương mại lâm sản hàng đầu của thế giới với công nghệ hiện đại; đóng góp ngày càng tăng vào phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Về xã hội: Góp phần quan trọng vào xây dựng đất nước Việt Nam an toàn và thịnh vượng; nông thôn mới giàu, đẹp và văn minh trên cơ sở cải thiện sinh kế, phát triển kinh tế xanh gắn với tài nguyên rừng, giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống và không gian sinh tồn của đồng bào các dân tộc thiểu số; bảo đảm giữ vững quốc phòng, an ninh.

Về môi trường: Quản lý rừng bền vững, bảo tồn lâu dài tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học; bảo đảm an ninh môi trường, an ninh nguồn nước, chống suy thoái đất đai, giảm thiểu tác động tiêu cực của thiên tai, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, cung ứng dịch vụ môi trường rừng; tham gia tích cực, có trách nhiệm và thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế đã ký kết tham gia.

Để đạt được mục tiêu trên, Chiến lược đã đưa ra những giải pháp cụ thể như: Rà soát, hoàn thiện hệ thống chính sách lâm nghiệp trên cơ sở Luật Lâm nghiệp năm 2017; đổi mới cơ chế, chính sách nhằm huy động đa dạng các nguồn lực cho phát triển lâm nghiệp nói chung và phát triển lâm nghiệp gắn với giảm nghèo bền vững ở các vùng đặc biệt khó khăn, dân tộc thiểu số có nhiều rừng; tăng cường giáo dục pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, nâng cao ý thức bảo vệ rừng của người dân.

Phát triển khoa học công nghệ là nhân tố quan trọng thúc đẩy phát triển lâm nghiệp bền vững, nâng cao giá trị gia tăng, sức cạnh tranh; phấn đấu đóng góp của khoa học công nghệ vào giá trị tăng trưởng ngành lâm nghiệp đạt 30%.

Tự động hóa đồng bộ các vùng sản xuất lâm nghiệp

Chiến lược cũng đề ra giải pháp xây dựng kết cấu hạ tầng lâm nghiệp đồng bộ, hiện đại hóa ngành lâm nghiệp và dịch vụ logistics. Tổ chức lại vùng sản xuất tập trung theo định hướng phát triển các sản phẩm chủ lực phù hợp với lợi thế của từng vùng gắn với cơ giới hóa đồng bộ và kết nối với khu chế biến lâm sản và dịch vụ thương mại phát triển các cụm liên kết chế biến gỗ gắn với vùng nguyên liệu rừng trồng theo vùng sinh thái; phát triển hệ thống đường lâm nghiệp gắn kết vùng nguyên liệu quy mô, tập trung với nhà máy chế biến.

Đẩy mạnh hiện đại hóa, cơ giới hóa, tự động hóa đồng bộ tại các vùng sản xuất lâm nghiệp hàng hóa tập trung. Đến năm 2030, tỷ lệ cơ giới hóa trong các khâu làm đất, giống, trồng cây, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, phòng chống cháy rừng, khai thác vận chuyển gỗ và lâm sản đạt ít nhất 30%. Phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong sản xuất và xuất khẩu, phấn đấu để Việt Nam trở thành một trong những nước hàng đầu trên thế giới về sản xuất, chế biến, xuất khẩu sản phẩm gỗ và lâm sản ngoài gỗ có thương hiệu, uy tín.

Xây dựng ngành công nghiệp chế biến gỗ hiện đại, hiệu quả, thân thiện với môi trường, gắn với xây dựng các khu công nghiệp quy mô lớn, doanh nghiệp lớn; phát triển công nghiệp phụ trợ để chủ động nguồn nguyên liệu đầu vào phục vụ ngành công nghiệp chế biến gỗ. Khuyến khích, thu hút các doanh nghiệp đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến gỗ và lâm sản, sử dụng phế phụ phẩm từ chế biến gỗ, sản xuất keo dán gỗ và phụ kiện cho công nghiệp chế biến gỗ.

Xây dựng 3 khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại 03 miền

Nhà nước hỗ trợ đầu tư, có chính sách khuyến khích đầu tư xây dựng ít nhất 03 khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại 03 miền Bắc, Trung, Nam, nhằm thúc đẩy phát triển ngành lâm nghiệp theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ cao trong chuỗi giá trị ngành lâm nghiệp.

Phát triển các hình thức liên kết giữa các thành phần kinh tế, kinh tế hợp tác, kinh tế chia sẻ trong lâm nghiệp; phát triển sản xuất kinh doanh đa dạng, gắn trồng rừng với công nghiệp chế biến và thương mại lâm sản theo chuỗi giá trị…

Đầu tư Sân golf Đak Đoa, tỉnh Gia Lai

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng vừa ký quyết định phê duyệt chủ trương đầu tư dự án Sân golf Đak Đoa, tỉnh Gia Lai.

Dự án trên được đầu tư tại thị trấn Đak Đoa, xã Glar và xã Tân Bình, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai do Công ty cổ phần tập đoàn FLC làm chủ đầu tư.

Quy mô của Dự án là 174,01 ha với nguồn vốn đầu tư là 1.142,075 tỷ đồng. Trong đó vốn chủ sở hữu 172,912 tỷ đồng (chiếm 15,14% tổng vốn đầu tư), vốn vay 969,163 tỷ đồng (chiếm 84,86%) tổng vốn đầu tư.

Thời hạn hoạt động của Dự án là 50 năm kể từ ngày có quyết định giao đất, cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Phó Thủ tướng yêu cầu UBND tỉnh Gia Lai chịu trách nhiệm về các thông tin, số liệu báo cáo tại hồ sơ Dự án, các nội dung giải trình, tiếp thu của Nhà đầu tư và các nội dung đã thẩm định; chịu trách nhiệm toàn diện về các nội dung liên quan đến việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng rừng cho Nhà đầu tư thực hiện Dự án theo đúng quy định của pháp luật; chỉ đạo các cơ quan chức năng theo dõi, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Dự án theo đúng quy định của pháp luật.

Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng rừng, việc bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước, việc đáp ứng quy định của pháp luật về đất đai, lâm nghiệp và các pháp luật liên quan khác thuộc nhiệm vụ quản lý nhà nước của mình.

Công ty cổ phần tập đoàn FLC chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác các thông tin, số liệu, nội dung hồ sơ Dự án. Trong quá trình thực hiện Dự án phải bảo đảm tuân thủ đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật về đầu tư, xây dựng, đất đai, lâm nghiệp, tài nguyên môi trường, tài nguyên nước và các quy định của pháp luật liên quan khác…

Dự án hạ tầng kỹ thuật KCN sạch Sóc Sơn quy mô gần 303 ha

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã ký quyết định chủ trương đầu tư dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp sạch Sóc Sơn.

Mục tiêu của dự án là đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp. Nhà đầu tư thực hiện dự án là Công ty cổ phần tập đoàn đầu tư xây dựng DĐK.

Dự án được thực hiện tại xã Minh Trí và xã Tân Dân, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội với quy mô sử dụng đất 302,8 ha. Tổng vốn đầu tư dự kiến của dự án là 3.226,92 tỷ đồng, trong đó vốn góp của Nhà đầu tư để thực hiện dự án là 850 tỷ đồng.

UBND thành phố Hà Nội không được chuyển đổi mục đích sử dụng diện tích quy hoạch khu công nghiệp sạch Sóc Sơn còn lại (37,2 ha) sang mục đích sử dụng khác khi chưa thực hiện trình tự, thủ tục điều chỉnh quy hoạch khu công nghiệp theo quy định tại Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế.

Bên cạnh đó, UBND thành phố Hà Nội kiểm tra, đánh giá, xác định việc đáp ứng điều kiện cho thuê đất tại thời điểm cho thuê đất; bảo đảm điều kiện cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong quá trình cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện Dự án. Có kế hoạch bổ sung diện tích đất hoặc tăng hiệu quả đất trồng lúa khác để bù lại phần đất trồng lúa bị chuyển đổi.

UBND thành phố Hà Nội chỉ đạo Ban quản lý các khu công nghiệp và chế xuất Hà Nội và các cơ quan có liên quan phối hợp với Nhà đầu tư triển khai phương án đền bù, giải phóng mặt bằng theo quy định; triển khai các giải pháp liên quan đến đời sống người lao động làm việc trong khu công nghiệp, trong đó có phương án xây dựng nhà ở, công trình xã hội, văn hóa, thể thao cho người lao động; hỗ trợ việc làm, đào tạo nghề cho người dân bị thu hồi đất; thực hiện thu hồi đất phù hợp với tiến độ thực hiện Dự án và thu hút đầu tư để giảm thiểu tối đa ảnh hưởng đến người dân bị thu hồi đất./.