Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 29/7

10:10 PM, 29/07/2020

Thủ tướng chỉ đạo: Tăng tốc truy vết nguồn lây COVID-19

Văn phòng Chính phủ vừa ban hành văn bản 262/TB-VPCP thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về phòng, chống dịch COVID-19 sáng ngày 29/7/2020.

Thông báo nêu rõ, sau khi nghe báo cáo của Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch COVID-19, của Ủy ban nhân dân một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ý kiến của các Phó Thủ tướng và các đại biểu dự họp, Thủ tướng Chính phủ có ý kiến chỉ đạo như sau:

1. Dịch bệnh COVID-19 đã và đang diễn biến phức tạp, đã nhiều ngày liền xuất hiện các ca nhiễm trong cộng đồng tại Thành phố Đà Nẵng và một số tỉnh, thành phố, chưa xác định được nguồn lây và có nguy cơ lây nhiễm tại nhiều địa phương trong cả nước, nhất là tại các thành phố lớn và các tỉnh lân cận Thành phố Đà Nẵng.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ban chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch COVID-19, Bộ Y tế, các bộ, ngành, liên quan, lãnh đạo các địa phương đề cao trách nhiệm, huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, triển khai thực hiện nghiêm Lời kêu gọi của Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư (trong đó có Điện ngày 28 tháng 7 năm 2020 của Thường trực Ban Bí thư), các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về phòng, chống dịch, tuyệt đối không lơ là, chủ quan, không để dịch bệnh bùng phát trên diện rộng, bảo vệ tốt nhất tính mạng và sức khỏe nhân dân; đề nghị các đồng chí Bí thư Thành ủy, Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống dịch trên địa bàn.

2. Các Bộ: Thông tin và Truyền thông, Y tế, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, các cơ quan báo chí, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền về tình hình, diễn biến dịch bệnh, các biện pháp phòng, chống dịch và khuyến cáo người dân đề cao cảnh giác, chủ động và tự giác thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch như đeo khẩu trang nơi công cộng, trên các phương tiện giao thông công cộng, hạn chế tụ tập đông người khi không cần thiết, rửa tay thường xuyên bằng xà phòng, dung dịch sát khuẩn…

3. Thủ tướng Chính phủ hoan nghênh, đánh giá cao Thành phố Đà Nẵng, Bộ Y tế và các bộ, ngành liên quan đã triển khai kịp thời, đồng bộ biện pháp phòng, chống dịch phù hợp trên phạm vi toàn Thành phố Đà Nẵng, trong đó có biện pháp giãn cách xã hội trên toàn thành phố, góp phần giảm nguy cơ lây lan dịch bệnh.

Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng và các bộ liên quan tiếp tục tăng tốc truy vết nguồn lây, phát hiện nhanh nhất các ca nhiễm trong cộng đồng, cách ly kịp thời các trường hợp có nguy cơ. Bộ Quốc phòng, nhất là Quân khu 5 khẩn trương tổ chức hiệu quả, quản lý chặt chẽ việc cách ly các trường hợp thuộc diện phải cách ly tại Thành phố Đà Nẵng và các địa phương lân cận.

4. Các Bộ: Y tế, Tài chính và các địa phương phải bảo đảm năng lực cho hệ thống y tế, trước hết là công cụ, phương tiện, vật tư phục vụ cho xét nghiệm trên diện rộng và cán bộ, lực lượng chuyên môn đáp ứng yêu cầu phòng, chống dịch.

5. Tiếp tục tăng cường năng lực, thực hiện xét nghiệm trên diện rộng trước hết tại Thành phố Đà Nẵng và các địa phương có ca nhiễm trong cộng đồng.

Đối với người đã tiếp xúc người bệnh cần cách ly ngay, đồng thời theo dõi, giám sát y tế chặt chẽ, Bộ Y tế có phương án cụ thể đối với các đối tượng này. Đối với người đã có biểu hiện ho, sốt cần được xét nghiệm ngay.

Các Bộ: Y tế, Quốc phòng tăng cường cán bộ, phương tiện, công cụ, sinh phẩm, vật tư phục vụ xét nghiệm trên diện rộng, tăng tốc việc xét nghiệm tại Thành phố Đà Nẵng và các địa phương liên quan; chú trọng xét nghiệm các trường hợp đã có biểu hiện ho, sốt, đã đến các địa điểm đã bị cách ly, phong tỏa, khu vực có các ca nhiễm bệnh theo thông báo của Bộ Y tế.

Bộ Y tế khẩn trương rà soát, dự báo nhu cầu xét nghiệm; phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức, chỉ đạo mua sắm sinh phẩm, vật tư đáp ứng nhu cầu xét nghiệm; sớm có văn bản báo cáo Thủ tướng Chính phủ về vấn đề chi trả chi phí xét nghiệm.

6. Đồng ý phương án tăng cường năng lực điều trị, huy động các bệnh viện tuyến Trung ương, bệnh viện quân đội, các bệnh viện ở các tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên - Huế tham gia điều trị bệnh nhân ở Thành phố Đà Nẵng. Bộ Y tế phân công cụ thể việc này, không để bị động.

7. Tùy diễn biến dịch, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương quyết định mức nguy cơ và áp dụng các biện pháp phòng, chống dịch phù hợp với từng mức nguy cơ theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại các Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31 tháng 3 năm 2020 và 19/CT-TTg ngày 24 tháng 4 năm 2020. Tất cả các địa phương đều phải khẩn trương rà soát phương án, kế hoạch phòng, chống dịch của địa phương mình, đáp ứng yêu cầu phòng, chống dịch trong tình hình mới; trước mắt, các địa phương có ca nhiễm cộng đồng xem xét quyết định việc tạm dừng tổ chức sự kiện có tập trung đông người như lễ hội, khuyến cáo việc hạn chế tập trung đông người tại tiệc cưới, tang lễ... Tăng cường công tác quản lý không để thiếu hàng, sốt giá và các hoạt động gây mất trật tự, trị an trên địa bàn.

8. Bộ Quốc phòng tăng cường chỉ đạo quản lý chặt chẽ biên giới, nhất là các tuyến đường mòn, lối mở; quản lý chặt chẽ các cơ sở cách ly tập trung.

9. Ngành giáo dục và đào tạo, các địa phương có phương án tổ chức tốt kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học, bảo đảm an toàn./.

 

Chỉ thị về xây dựng Kế hoạch phát triển KTXH và Dự toán NSNN năm 2021

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chỉ thị 31/CT-TTg về xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2021.

Chỉ thị nêu rõ, năm 2020, dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (dịch COVID-19) bùng phát, lây lan nhanh tới các quốc gia trên thế giới. Đây là một dịch bệnh nguy hiểm, ảnh hưởng toàn cầu, tác động đến mọi khía cạnh của đời sống kinh tế, xã hội và hành vi, thói quen sinh hoạt của người dân trên toàn thế giới. Tác động của dịch COVID-19 cộng hưởng với đà suy giảm của kinh tế thế giới từ cuối năm 2019 đã ảnh hưởng nghiêm trọng, toàn diện đến tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới.

Năm 2021 là năm diễn ra Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, là năm đầu triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, trong khi kinh tế trong nước vẫn còn khó khăn, tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặt ra nhiều thách thức cho quá trình phát triển bền vững, trong đó có diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19.

Để phát huy các kết quả đã đạt được, vượt qua các khó khăn, thách thức, tạo tiền đề thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tiếp theo, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (các bộ, cơ quan trung ương và địa phương) triển khai xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021 với các yêu cầu, nhiệm vụ chủ yếu như sau:

Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021 phải được xây dựng trên cơ sở đánh giá đầy đủ, chính xác tình hình và kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 và dự báo tình hình trong nước, khu vực và thế giới trong giai đoạn tới tác động, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; từ đó xác định mục tiêu phát triển của kế hoạch năm 2021 phù hợp với mục tiêu Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025.

Đánh giá tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020

Trên cơ sở tình hình triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2020, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương tổ chức đánh giá và ước thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 trên tất cả các ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách, quản lý; trong đó, cần bám sát các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ đã được thông qua tại các nghị quyết, kết luận của Đảng, các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ và Hội đồng nhân dân các cấp về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020; đánh giá đầy đủ, thực chất, chính xác các kết quả đạt được (đặc biệt nêu rõ thành tựu nổi bật của năm 2020), những khó khăn, hạn chế, nguyên nhân để có biện pháp khắc phục, trong đó có đánh giá các tác động của thiên tai, dịch bệnh như đại dịch COVID-19.

Cụ thể: Các bộ, cơ quan trung ương đánh giá theo các nhiệm vụ được giao tại Kết luận số 63-KL/TW ngày 18/10/2019 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Nghị quyết số 85/2019/QH14 của Quốc hội, Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2020 và các nghị quyết khác của Chính phủ về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020. Trong đó, báo cáo đầy đủ việc thực hiện các chỉ tiêu đã được giao tại các Nghị quyết này theo mẫu tại Phụ lục kèm theo.

Các địa phương đánh giá theo các nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ và Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020.

Xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021

Chỉ thị nêu rõ, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021 xây dựng trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường như cạnh tranh chiến lược, căng thẳng thương mại giữa các nước; tăng trưởng kinh tế thế giới có khả năng chậm hơn; cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ tiếp tục tác động mạnh mẽ và sâu rộng đến mọi mặt của đời sống; các thách thức an ninh phi truyền thống, đặc biệt là biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng về cả tác động và cường độ; dịch bệnh diễn biến phức tạp, đặc biệt là đại dịch COVID-19... Trong nước, tình hình chính trị - xã hội và kinh tế vĩ mô ổn định; niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp và người dân ngày càng tăng lên...

Tuy nhiên, trong giai đoạn 2021-2025 nền kinh tế sẽ phải đối mặt rất nhiều khó khăn, thách thức đến từ những yếu kém nội tại chưa và chậm được khắc phục cũng như các vấn đề xã hội - môi trường gây áp lực lớn đến phát triển kinh tế - xã hội như già hóa dân số, chênh lệch giàu nghèo, thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, xâm nhập mặn... đặc biệt trong năm 2021, năm đầu thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025.

Trong bối cảnh đó, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương nghiên cứu, xác định các vấn đề cơ bản của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021, trong đó tập trung vào các nội dung chủ yếu sau:

1- Bối cảnh xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021, bao gồm nhận định, phân tích những cơ hội, thuận lợi, thách thức, rủi ro của bối cảnh trong nước, khu vực và quốc tế tác động đến việc xây dựng và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

2- Mục tiêu tổng quát của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021.

3- Mục tiêu chủ yếu và một số cân đối lớn, trong đó: phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) của cả nước năm 2021 tăng khoảng 7%, đối với các bộ, cơ quan trung ương và địa phương, căn cứ tình hình thực tế xây dựng phương án tăng trưởng của ngành, lĩnh vực và địa phương hợp lý và phù hợp; đề xuất một số chỉ tiêu cơ bản của bộ, ngành và địa phương cho năm 2021 theo mẫu tại Phụ lục kèm theo.

4- Các định hướng, nhiệm vụ chủ yếu:

Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững trên cơ sở giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát. Nghiên cứu, hình thành khung khổ pháp lý cho sự phát triển phù hợp với tình hình mới, như: thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế biển xanh lam, thân thiện với môi trường; thúc đẩy chuyển đổi hạ tầng số, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và các mô hình kinh tế mới ứng dụng công nghệ số...

Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, tăng cường sức chống chịu của nền kinh tế, khơi dậy nội lực trong nước; phát triển kinh tế tập thể, phát huy vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm của thành viên trong hợp tác xã để hợp tác xã thực sự là thành phần quan trọng của nền kinh tế; cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, tăng cường hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa; thúc đẩy khởi nghiệp, sáng tạo, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia hiệu quả vào cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu; hỗ trợ doanh nghiệp tái cấu trúc, nâng cao năng lực công nghệ, đổi mới phương thức sản xuất, kinh doanh để ứng phó linh hoạt với tác động của thiên tai, dịch bệnh; khắc phục thiệt hại, phục hồi sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế sau thiên tai, dịch bệnh.

Mở rộng thị trường xuất, nhập khẩu, đa dạng hóa đối tác, nguồn hàng, hạn chế sự phụ thuộc vào một số thị trường; kiểm soát có hiệu quả nhập khẩu; thực hiện có hiệu quả các giải pháp phòng, ngừa, nâng cao năng lực phòng vệ thương mại, cảnh báo sớm và giải quyết tranh chấp thương mại, đầu tư quốc tế, bảo vệ hợp lý các ngành sản xuất trong nước và lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người dân. Đẩy mạnh khai thác và phát triển thị trường nội địa, nâng cao sức tiêu dùng trong nước và phát triển thương hiệu Việt. Phát triển mạnh thương mại điện tử và sự gắn kết giữa thương mại điện tử với các loại hình hoạt động thương mại truyền thống. Thực hiện có hiệu quả các giải pháp bảo đảm cân đối cung - cầu, gắn kết giữa sản xuất với phân phối hàng hóa, tăng cường liên kết trong chuỗi giá trị, chú trọng đến các mặt hàng nông sản. Tăng cường quản lý, kiểm tra thị trường, phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại.

Tăng cường huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư của nền kinh tế. Nâng cao hiệu quả quản lý nợ công và sử dụng vốn đầu tư công, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án quan trọng quốc gia, các công trình trọng điểm.

Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ như giao thông, năng lượng, công nghệ thông tin và truyền thông, nông nghiệp, nông thôn...; phát triển đô thị theo quy hoạch và kế hoạch, hướng tới mô hình đô thị xanh, thông minh và bền vững; tập trung nâng cao chất lượng đô thị. Tiếp tục phát triển nhà ở xã hội, đáp ứng nhu cầu của người thu nhập thấp, nhà ở cho công nhân khu công nghiệp, tiếp tục xây dựng nông thôn mới.

Thúc đẩy phát triển các vùng và khu kinh tế theo quy hoạch đã được phê duyệt; nghiên cứu, ban hành quy chế phối hợp điều hành các vùng, liên kết vùng; xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù thúc đẩy phát triển vùng, liên kết vùng; phát triển các mô hình kinh tế xanh cho các vùng và khu kinh tế; phát triển các vùng nguyên vật liệu trong nước để chủ động hơn các yếu tố đầu vào phục vụ sản xuất kinh doanh; phát triển kinh tế biển.

Nâng cao chất lượng và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực gắn với đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, ứng dụng và phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ; chú trọng đào tạo nguồn nhân lực có kĩ năng, trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, am hiểu pháp luật, tăng nhanh tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ để nâng tầm kỹ năng lao động Việt Nam đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động và yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Triển khai thực hiện chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới; tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên; đổi mới giáo dục đại học gắn với tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ. Phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm tạo bứt phá nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Tiếp tục xây dựng, phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam, sức mạnh toàn dân tộc, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân; bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân, chất lượng dân số; phát triển công nghiệp y tế, đẩy mạnh phòng, chống dịch bệnh, tăng cường công tác vệ sinh, an toàn thực phẩm; thực hiện các quyền của trẻ em, thúc đẩy bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ; thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo; gắn kết hài hòa giữa phát triển kinh tế với xã hội, phát triển thể dục thể thao. Đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, thúc đẩy phát triển kinh tế vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Phát triển, nâng cao chất lượng báo chí, truyền thông.

Quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ môi trường sống, kiên quyết loại bỏ những cơ sở gây ô nhiễm môi trường, nhất là ở các đô thị, thành phố lớn; bảo tồn, phục hồi và phát triển bền vững đa dạng sinh học; phát triển mạnh kinh tế biển theo hướng bền vững, hình thành văn hoá sinh thái biển; chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chấp hành kỷ luật, kỷ cương, sắp xếp và tinh gọn bộ máy; đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số.

Tiếp tục cải cách hành chính tư pháp; tăng cường kiểm tra, rà soát, hoàn thiện pháp luật, tạo chuyển biến mạnh mẽ và hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động hành chính tư pháp và bổ trợ tư pháp, thi hành án; cải cách thủ tục hành chính.

Củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ và giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch, phản động, không để xảy ra bạo loạn, khủng bố, hình thành tổ chức chính trị đối lập trong nước; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Tạo chuyển biến tích cực, rõ nét về trật tự, an toàn xã hội; từng bước đẩy lùi, làm giảm các điều kiện nảy sinh các loại tội phạm và vi phạm pháp luật. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; bảo đảm an toàn thông tin và an ninh mạng.

Tiếp tục triển khai hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế, củng cố môi trường hòa bình, ổn định và thuận lợi để phát triển đất nước.

Trên cơ sở các mục tiêu, định hướng, nhiệm vụ chủ yếu nêu trên, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương cụ thể hóa các cơ chế, giải pháp, chính sách để thực hiện thành công kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021. Cơ chế, giải pháp, chính sách phải bảo đảm sự thống nhất về các nguyên tắc, mục tiêu chung, đồng thời phải phù hợp với điều kiện thực tiễn và trình độ phát triển của từng ngành và từng địa phương.

Xây dựng dự toán ngân sách nhà nước năm 2021

Chỉ thị nêu rõ, dự toán thu ngân sách nhà nước năm 2021 phải được xây dựng theo đúng chính sách, chế độ hiện hành. Trong bối cảnh tình hình có nhiều khó khăn, thách thức lớn của năm 2020, cần phân tích, dự báo tình hình kinh tế, tài chính thế giới và trong nước để đánh giá sát khả năng thực hiện thu ngân sách nhà nước năm 2020 làm cơ sở xây dựng dự toán thu ngân sách nhà nước năm 2021, đặc biệt là các thách thức từ nguy cơ suy thoái kinh tế toàn cầu do tác động của đại dịch COVID-19, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và các nhân tố tác động khác làm thay đổi tình hình sản xuất - kinh doanh, đầu tư, phát triển của doanh nghiệp, hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu. Tính toán cụ thể các yếu tố tăng, giảm và dịch chuyển nguồn thu do thay đổi chính sách pháp luật về thu, quản lý thu, gia hạn thời gian nộp thuế và tiền thuê đất, miễn, giảm thuế, phí, lệ phí và thực hiện lộ trình cắt giảm thuế để thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó có các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; thực hiện các biện pháp cải cách hành chính, hiện đại hoá công tác quản lý thu; tăng cường công tác quản lý, chống thất thu, chống chuyển giá, gian lận thương mại, trốn thuế, quản lý chặt chẽ giá tính thuế; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra thuế; quyết liệt xử lý nợ đọng thuế và kiểm soát chặt chẽ hoàn thuế. Phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định.

Phấn đấu dự toán thu nội địa từ hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2021 (đã dự kiến các tác động điều chỉnh chính sách thu theo các chủ trương hiện hành) bình quân chung cả nước tăng khoảng 9-11% so với đánh giá ước thực hiện năm 2020. Mức tăng thu cụ thể tùy theo điều kiện, đặc điểm và phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn của từng địa phương. Dự toán thu từ hoạt động xuất nhập khẩu năm 2021 tăng bình quân khoảng 4-6% so với đánh giá ước thực hiện năm 2020.

Dự toán thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tiếp tục được xây dựng trên cơ sở kế hoạch đấu giá quyền sử dụng đất, phương án sắp xếp lại, xử lý nhà, đất đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật có liên quan.

Xây dựng dự toán chi ngân sách nhà nước năm 2021 đảm bảo phù hợp với các quy định của pháp luật về xây dựng dự toán chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên ngân sách nhà nước năm 2021 được cấp có thẩm quyền quyết định; đáp ứng yêu cầu cơ cấu lại ngân sách theo Nghị quyết số 07-NQ/TW của Bộ Chính trị, gắn với việc triển khai chủ trương sắp xếp lại tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, đầu mối khu vực sự nghiệp công lập theo các Nghị quyết số 18-NQ/TW và Nghị quyết số 19-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 6 (Khóa XII). Tăng cường thực hiện các giải pháp, chính sách tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và đẩy mạnh ứng dụng, triển khai Chính phủ điện tử. Tiếp tục quán triệt nguyên tắc công khai, minh bạch và yêu cầu thực hiện triệt để tiết kiệm, chống lãng phí ngay từ khâu xác định nhiệm vụ; chủ động rà soát các chính sách, nhiệm vụ trùng lắp, kém hiệu quả, sắp xếp thứ tự ưu tiên các khoản chi thực hiện theo mức độ cấp thiết, quan trọng và khả năng triển khai thực hiện năm 2021 để hoàn thành các nhiệm vụ, chương trình, dự án, đề án được cấp có thẩm quyền phê duyệt trên cơ sở nguồn ngân sách nhà nước được phân bổ và các nguồn huy động hợp pháp khác. Chỉ trình cấp có thẩm quyền ban hành chính sách, đề án, nhiệm vụ mới khi thực sự cần thiết và có nguồn bảo đảm; dự kiến đầy đủ nhu cầu kinh phí thực hiện các chính sách, chế độ, nhiệm vụ mới đã được cấp có thẩm quyền quyết định; không bố trí dự toán chi cho các chính sách chưa ban hành. Tiếp tục đẩy mạnh sắp xếp, cơ cấu lại, tăng cường quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn thu từ cổ phần hóa, thoái vốn tại doanh nghiệp nhà nước…

 

Đẩy mạnh tái cơ cấu DN tư nhân thuộc ngành chịu tác động nặng của dịch COVID-19

Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo tái cơ cấu doanh nghiệp khu vực tư nhân nhằm hạn chế tác động tiêu cực từ những bất ổn, đặc biệt đối với doanh nghiệp thuộc các ngành, lĩnh vực chịu tác động nặng nề của dịch bệnh COVID-19.

Thủ tướng Chính phủ vừa có ý kiến về tình hình thực hiện Nghị quyết số 98/NQ-CP ngày 3/10/2017 của Chính phủ Ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3/6/2017 của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (Nghị quyết số 98/NQ-CP).

Hoàn thiện khung thể chế, chính sách liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh

Theo đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương tiếp tục triển khai có kết quả các nhiệm vụ, giải pháp đề ra tại Nghị quyết 98/NQ-CP và các Nghị quyết, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về khuyến khích, hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ; cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp.

Cụ thể, các Bộ, ngành, địa phương phải tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện khung thể chế, chính sách liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; triển khai có hiệu quả các quy định của Luật Doanh nghiệp (sửa đổi), Luật Đầu tư (sửa đổi), Luật đầu tư theo hình thức đối tác công tư - PPP….; ban hành các Nghị định, Thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các Luật này.

Rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa quy định không cần thiết, không hợp lý, là rào cản, gây khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu tại Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 12/5/2020 của Chính phủ về ban hành chương trình cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020 - 2025.

Đẩy mạnh mối quan hệ hợp tác đối tác công - tư, tăng cường các thể chế xúc tiến, phát triển thị trường PPP; tái cơ cấu doanh nghiệp khu vực tư nhân nhằm hạn chế tác động tiêu cực từ những bất ổn (đặc biệt là vấn đề dịch bệnh COVID-19 vừa qua) theo hướng đa dạng hóa về nguồn hàng, khách hàng và thị trường, đặc biệt đối với doanh nghiệp thuộc các ngành, lĩnh vực chịu tác động nặng nề của dịch bệnh như vận tải, du lịch, nông sản xuất khẩu và các doanh nghiệp công nghiệp chế tạo phụ thuộc nguồn nguyên, vật liệu từ nước ngoài...

Các Bộ, ngành, địa phương tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước về kinh tế kết hợp với giữ vững ổn định, an ninh, an toàn, lành mạnh và lợi ích cho phát triển kinh tế tư nhân.

Tăng cường triển khai Chính phủ điện tử, cơ chế một cửa quốc gia, đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia.

Tiếp tục đẩy mạnh tiếp cận thông tin, tuyên truyền, phổ biến cho các doanh nghiệp, đặc biệt là cơ chế tham gia ý kiến của các doanh nghiệp tư nhân đối với công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước, đảm bảo tính hiệu lực và hiệu quả đối với các chính sách hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp, phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước và thông lệ quốc tế.

Khuyến khích doanh nghiệp áp dụng mô hình kinh doanh bền vững

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương tích cực triển khai các quy định của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và các văn bản hướng dẫn thi hành; chủ động xem xét, bố trí vốn cho việc triển khai hoạt động, chương trình, kế hoạch hoặc đề án hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được phê duyệt trong năm 2020 và trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2025.

Trong đó tập trung phát triển chuỗi giá trị và liên kết vùng nhằm phát huy tối đa lợi thế cạnh tranh, định hướng xuất khẩu; tăng cường năng lực xuất khẩu hàng hóa Việt vào các thị trường EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc,…và mở rộng tìm kiếm các thị trường khác: Trung Đông, Châu Phi, Châu Mỹ La tinh,…

Khuyến khích doanh nghiệp áp dụng các mô hình kinh doanh bền vững, công nghệ sản xuất sạch hơn, sử dụng hiệu quả tài nguyên; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ.

Phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; phát triển công nghệ cao; đổi mới công nghệ quốc gia; hợp tác nghiên cứu song phương, đa phương về khoa học và công nghệ; tìm kiếm và chuyển giao công nghệ nước ngoài…

Các Bộ, ngành, địa phương tổng kết, đánh giá 3 năm tình hình thực hiện Nghị quyết 98/NQ-CP gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư (đồng gửi Văn phòng Chính phủ) trước ngày 20/11/2020 để tổng hợp, báo cáo Chính phủ.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan theo dõi, đôn đốc việc triển khai thực hiện các giải pháp đề ra tại Nghị quyết số 98/NQ-CP và các giải pháp; định kỳ hàng tháng, hàng quý và hàng năm báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả phát triển khu vực kinh tế tư nhân (trong đó nêu rõ các chỉ tiêu về tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, số doanh nghiệp thành lập mới; số doanh nghiệp quay lại hoạt động; số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, số vốn đăng ký, số lao động, đóng góp GDP…); đề xuất các sáng kiến, giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp; báo cáo Chính phủ tổng kết, đánh giá 3 năm tình hình thực hiện Nghị quyết số 98/NQ-CP tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 12 năm 2020.

Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ thực hiện khảo sát, đánh giá và công bố thường niên Báo cáo Chỉ số đánh giá chi phí tuân thủ thủ tục hành chính (APCI).

 

Xử lý sớm tồn tại, vướng mắc của ngành đóng tàu

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc giao Bộ Giao thông vận tải nghiên cứu, có giải pháp xử lý sớm các tồn tại, vướng mắc của ngành đóng tàu.

Báo điện tử Tuổi trẻ online ngày 22/7/2020 có bài viết về "Thấy gì từ 40% tàu biển Việt Nam phải ra nước ngoài sửa chữa?", trong đó nêu Đội tàu biển Việt Nam đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN (sau Singapo, Indosesia và Malaysia) và đứng thứ 30 trên thế giới nhưng khoảng 40% đội tàu biển Việt Nam phải sửa chữa ở các cơ sở công nghiệp tàu thủy nước ngoài...

Về vấn đề này, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc giao Bộ Giao thông vận tải nghiên cứu, có giải pháp xử lý sớm các tồn tại, vướng mắc của ngành đóng tàu.

 

Yêu cầu Lâm Đồng xử lý dứt điểm vi phạm xây dựng trái phép

Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình yêu cầu UBND tỉnh Lâm Đồng tiếp tục xử lý dứt điểm các vi phạm tại "Dự án Điểm du lịch canh nông Vườn thượng uyển bay" theo đúng quy định của pháp luật.

Xét báo cáo của UBND tỉnh Lâm Đồng về kết quả kiểm tra, xử lý phản ánh của báo chí về việc "Dự án Điểm du lịch canh nông Vườn thượng uyển bay" trên địa bàn phường 10, thành phố Đà Lạt xây dựng, kinh doanh không phép trên đất rừng phòng hộ, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình vừa có ý kiến chỉ đạo.

Cụ thể, Phó Thủ tướng yêu cầu UBND tỉnh Lâm Đồng tiếp tục xử lý dứt điểm các vi phạm tại "Dự án Điểm du lịch canh nông Vườn thượng uyển bay" theo đúng quy định của pháp luật; đồng thời tăng cường hơn nữa công tác quản lý nhà nước về đất đai, xây dựng, đầu tư dự án và chịu trách nhiệm về việc các vi phạm không tái diễn, rừng phòng hộ và quy hoạch đất rừng phòng hộ không bị vi phạm.

 

Huyện Bình Giang (Hải Dương) đạt chuẩn nông thôn mới

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng vừa ký quyết định công nhận huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương đạt chuẩn nông thôn mới.

UBND tỉnh Hải Dương có trách nhiệm công bố và khen thưởng theo quy định; chỉ đạo huyện Bình Giang tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí, chú trọng tiêu chí về sản xuất và môi trường để bảo đảm tính bền vững trong xây dựng nông thôn mới.

Trước đó, ngày 03/06/2020, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cũng đã ký quyết định cộng nhận huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương đạt chuẩn nông thôn mới năm 2019.

 

Nâng cấp Cảng hàng không Điện Biên

Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng tại cuộc họp về triển khai nâng cấp, mở rộng Cảng hàng không Điện Biên.

Thông báo kết luận nêu rõ: Điện Biên là vùng đất lịch sử, giàu truyền thống văn hóa, có ý nghĩa quan trọng về quốc phòng, an ninh. Trong những năm qua, Điện Biên đã được lãnh đạo Đảng, Nhà nước quan tâm chỉ đạo phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân nên hệ thống hạ tầng giao thông kết nối Điện Biên với các vùng trong cả nước còn hạn chế, nhất là đường bộ và hàng không.

Cảng hàng không Điện Biên được quy hoạch đến năm 2030 với quy mô cấp 3C, công suất 2 triệu hành khách/năm. Tuy nhiên, những năm gần đây lượng hành khách giảm dần. Một trong những nguyên nhân do kết cấu hạ tầng Cảng hàng không Điện Biên chưa được đầu tư đúng mức; hiện trạng đường cất hạ cánh ngắn nên chỉ khai thác được tàu bay ATR-72 và tương đương. Do đó, việc đầu tư nâng cấp Cảng hàng không Điện Biên là rất cần thiết để đáp ứng yêu cầu đảm bảo quốc phòng - an ninh, khai thác tiềm năng, lợi thế của Điện Biên về đất đai, phát triển du lịch và sản xuất, chế biến công nghiệp, nông, lâm sản...

Tại Thông báo số 274/TB-VPCP ngày 22/8/2019 của Văn phòng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên và Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp có văn bản trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định giao Tổng Công ty Cảng Hàng không Việt Nam (ACV) triển khai đầu tư; trong đó, làm rõ thuận lợi, khó khăn và phương án triển khai. Do đó, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Giao thông vận tải khẩn trương làm rõ các ý kiến của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp; trong đó, luận cứ cơ sở pháp lý của việc giao ACV đầu tư khu bay (ví dụ như việc đầu tư mới đường cất hạ cánh không ảnh hưởng đến tài sản công thuộc khu bay hiện hữu; pháp luật hiện hành không cấm doanh nghiệp đầu tư mới khu bay;...); đồng thời, cần tính toán hiệu quả đầu tư, khai thác toàn hệ thống các cảng hàng không do ACV đang quản lý. Yêu cầu ACV tính toán, có ý kiến chính thức gửi Bộ Giao thông vận tải và Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp về năng lực đầu tư Cảng hàng không Điện Biên. Bộ Giao thông vận tải thực hiện nhiệm vụ nêu trên, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15 tháng 8 năm 2020.

Sau khi Bộ Giao thông vận tải có ý kiến về các nội dung nêu trên, Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan liên quan thực hiện trình tự lập, thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư Dự án theo quy định của pháp luật./.