Chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 26/3

7:33 PM, 26/03/2021

Các trường hợp đất quốc phòng kết hợp xây dựng kinh tế không phải nộp tiền sử dụng đất

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 26/2021/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết số 132/2020/QH14 ngày 17/11/2020 của Quốc hội thí điểm một số chính sách để tháo gỡ vướng mắc, tồn đọng trong quản lý, sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế.

Trong đó, Nghị định quy định các trường hợp sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế không phải nộp tiền sử dụng đất hằng năm (*).

Cụ thể, đơn vị quân đội, đơn vị công an, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, trừ trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư khi sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế để phục vụ chủ yếu cho nhiệm vụ của đơn vị và thuộc một trong các trường hợp sau đây thì không phải nộp tiền sử dụng đất hằng năm:

1- Sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế để tổ chức tăng gia sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, chế biến thủy sản.

2- Sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế để tổ chức dịch vụ hỗ trợ hậu cần - kỹ thuật gồm:

-  Thư viện, bảo tàng; nhà hát, cơ sở phát thanh, truyền hình, điện ảnh; cơ sở báo chí, in ấn, xuất bản; nhà khách, nhà công vụ; cơ sở y tế, nhà an điều dưỡng, nhà nghỉ dưỡng, trung tâm điều dưỡng và phục hồi chức năng; căng tin nội bộ.

-  Cơ sở nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, sửa chữa trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật quân sự, nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ; cơ sở sản xuất quân trang; cơ sở sản xuất thực nghiệm; cơ sở xúc tiến thương mại quân sự, đối ngoại quân sự, an ninh.

- Cơ sở bảo dưỡng, sửa chữa xe, máy, tàu, thuyền, trang thiết bị kỹ thuật; kho, trạm dự trữ, cung ứng, cấp phát xăng, dầu; kho, bãi phương tiện vận tải, kỹ thuật nghiệp vụ; cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá; vị trí lắp đặt, bảo đảm an ninh, an toàn cho thiết bị của dịch vụ bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin, điện lực, ngân hàng phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, an ninh.

3- Sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế để tổ chức lao động, giáo dục, giáo dục cải tạo, rèn luyện gồm:

- Cơ sở giáo dục, đào tạo, giáo dục nghề nghiệp; cơ sở thi đấu, tập luyện thể dục, thể thao; cơ sở huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ.

-  Khu lao động, dạy nghề cho phạm nhân.

- Nhà xưởng lao động cải tạo cho phạm nhân.

- Công trình phục vụ sinh hoạt của cán bộ, chiến sĩ, học viên, phạm nhân.

Nghị định cũng quy định các trường hợp sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế phải nộp tiền sử dụng đất hằng năm gồm:

+ Đơn vị quân đội, đơn vị công an được tiếp tục thực hiện dự án, hợp đồng liên doanh, liên kết theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Nghị quyết số 132/2020/QH14 và quy định tại Nghị định này; đơn vị quân đội, đơn vị công an sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế không thuộc trường hợp quy định tại (*) nêu trên.

+ Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư, doanh nghiệp quân đội, công an sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế.

Tiền sử dụng đất hằng năm

Tiền sử dụng đất hằng năm khi sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế được xác định theo công thức sau:

Tiền sử dụng đất hằng năm

=

Diện tích đất sử dụng kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế theo phương án được phê duyệt

x

Giá đất cụ thể theo mục đích sử dụng kết hợp

x

Tỷ lệ % đơn giá sử dụng đất hằng năm

x

Tỷ lệ % doanh thu ngoài nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, an ninh hằng năm

Trong đó: - Mục đích sử dụng kết hợp được xác định theo loại đất quy định tại Điều 10 của Luật Đất đai. Trường hợp sử dụng đất vào nhiều mục đích khác nhau mà không xác định được ranh giới sử dụng đất giữa các mục đích thì mục đích sử dụng đất kết hợp được xác định theo loại đất có mức giá cao nhất.

- Giá đất cụ thể theo mục đích sử dụng kết hợp của năm tính thu tiền sử dụng đất được xác định theo phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Trường hợp trong năm sử dụng đất có sự biến động về giá đất trong bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất thì áp dụng theo mức cao nhất.

- Tỷ lệ % đơn giá sử dụng đất hàng năm được áp dụng theo tỷ lệ phần trăm (%) tính đơn giá thuê đất một năm của năm tính thu tiền sử dụng đất theo Nghị định của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước. Trường hợp trong năm sử dụng đất có sự biến động về tỷ lệ % đơn giá sử dụng đất thì áp dụng theo mức cao nhất.

- Tỷ lệ % doanh thu ngoài nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, an ninh hằng năm được xác định theo báo cáo tài chính hằng năm của đơn vị, doanh nghiệp.

 --------------------------

Kiện toàn hệ thống cơ quan thanh tra trong Công an nhân dân

Chính phủ ban hành Nghị định số 25/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 41/2014/NĐ-CP ngày 13/5/2014 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra Công an nhân dân (CAND).

Bộ Công an cho biết, triển khai Luật Công an nhân dân năm 2018 và Nghị định 01/2018/NĐ-CP, bộ máy tổ chức CAND trong đó có hệ thống cơ quan thực hiện chức năng thanh tra trong CAND đã thay đổi căn bản. Một số cơ quan thanh tra nhà nước trong CAND giải thể như: Thanh tra Tổng cục; thanh tra Bộ Tư lệnh; thanh tra Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Bên cạnh đó, tổ chức và hoạt động thanh tra tại các đơn vị trực thuộc Bộ chưa được kiện toàn.

Qua thực tiễn triển khai Nghị định 41/2014/NĐ-CP cho thấy một số quy định về tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan thực hiện chức năng thanh tra trong CAND hiện nay chưa hợp lý, chưa đảm bảo đồng bộ, thống nhất với một số văn bản quy phạm pháp luật về thanh tra. Do vậy, Nghị định 25/2021/NĐ-CP được ban hành nhằm khắc phục những hạn chế trên.

Theo Nghị định số 25/2021/NĐ-CP, hệ thống cơ quan thanh tra nhà nước trong CADN gồm: 1- Thanh tra Bộ Công an (Thanh tra Bộ); 2- Thanh tra Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Thanh tra Công an tỉnh); 3- Thanh tra Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng.

Ở các cơ quan, đơn vị không có tổ chức thanh tra thì Thủ trưởng đơn vị trực tiếp chỉ đạo công tác tiếp công dân; giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng, lãng phí theo quy định của pháp luật. Đơn vị có quân số từ 200 cán bộ, chiến sĩ trở lên, bố trí cán bộ thanh tra chuyên trách; quân số dưới 200 cán bộ, chiến sĩ, bố trí cán bộ thanh tra kiêm nhiệm.

Sửa đổi quy định hoạt động thanh tra hành chính

Ngoài ra, Nghị định số 25/2021/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung một số quy định trong hoạt động thanh tra hành chính trong CAND.

Về thẩm quyền ra quyết định thanh tra hành chính theo kế hoạch, Nghị định số 25/2021/NĐ-CP quy định căn cứ kế hoạch thanh tra đã được Thủ trưởng Công an có thẩm quyền phê duyệt, Chánh Thanh tra Công an các đơn vị, địa phương ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra.

Đối với những lĩnh vực, vụ việc phức tạp, liên quan đến nhiều đơn vị, địa phương, Bộ trưởng, Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, Giám đốc Công an tỉnh ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra.

Đối với những lĩnh vực, vụ việc đặc biệt phức tạp liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều cấp, nhiều ngành, trong đó trách nhiệm chủ yếu của Bộ Công an, căn cứ vào kế hoạch thanh tra, Bộ trưởng, Giám đốc Công an tỉnh quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra liên ngành để thực hiện nhiệm vụ thanh tra.

Về thẩm quyền ra quyết định thanh tra hành chính đột xuất, Nghị định quy định đối với lĩnh vực, vụ việc phức tạp liên quan đến trách nhiệm quản lý của Công an nhiều đơn vị, địa phương, Bộ trưởng, Giám đốc Công an tỉnh ra quyết định thanh tra đột xuất, thành lập Đoàn thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra.

Đối với lĩnh vực, vụ việc đặc biệt phức tạp liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, trong đó trách nhiệm của Công an là chủ yếu, Bộ trưởng, Giám đốc Công an tỉnh ra quyết định thanh tra đột xuất và thành lập Đoàn thanh tra liên ngành để thực hiện nhiệm vụ thanh tra.

Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng ra quyết định thanh tra đột xuất đối với vụ việc theo thẩm quyền, thành lập Đoàn thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra và gửi quyết định thanh tra đến Thanh tra Công an cấp trên trực tiếp.

 ---------------------------

Bảo đảm đủ lương thực, thực phẩm trong mọi tình huống

Bảo đảm đủ lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng trong nước trong mọi tình huống và một phần cho xuất khẩu; nâng cao thu nhập cho người dân để bảo đảm tiếp cận được lương thực chất lượng, an toàn thực phẩm; từng bước nâng cao tầm vóc, thể lực, trí lực người dân Việt Nam.

Đó là mục tiêu chung của Nghị quyết 34/NQ-CP về bảo đảm an ninh lương thực quốc gia đến năm 2030 vừa được Chính phủ ban hành.

Nghị quyết nêu rõ, vấn đề an ninh lương thực (bao gồm lương thực, thực phẩm) luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, chỉ đạo, nhằm bảo đảm an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài. Sau hơn 10 năm (2009 - 2019) thực hiện Kết luận số 53-KL/TW của Bộ Chính trị (khóa X) về Đề án An ninh lương thực quốc gia đến năm 2020 đã đạt được những thành tựu quan trọng, nổi bật là: Bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống, góp phần quan trọng ổn định kinh tế - chính trị - xã hội và phát triển đất nước, nhất là khi có biến động khủng hoảng kinh tế thế giới và tác động của đại dịch COVID-19; tham gia vào nguồn cung lương thực, thực phẩm cho thế giới;...

Tuy nhiên, vấn đề an ninh lương thực, thực phẩm nước ta vẫn còn một số hạn chế, yếu kém: Có lúc, có nơi việc sản xuất chưa theo quy hoạch, dẫn đến còn dư thừa cục bộ về lương thực, thực phẩm ảnh hưởng đến người sản xuất. Thu nhập của người trồng lúa còn thấp, đời sống của một bộ phận còn khó khăn. Tổ chức sản xuất, chế biến, thương mại, đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm còn nhiều bất cập. Tầm vóc, thể trạng người Việt Nam được cải thiện, nhưng còn chậm. Đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm cấp hộ gia đình một số nơi chưa vững chắc; khả năng tiếp cận lương thực đa dạng, kịp thời, đủ dinh dưỡng vẫn là thách thức lớn đối với người dân vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi.

An ninh lương thực quốc gia là vấn đề quan trọng của đất nước trước mắt cũng như lâu dài; để triển khai thực hiện Kết luận số 81-KL/TW ngày 29/7/2020 của Bộ Chính trị về “Bảo đảm an ninh lương thực quốc gia đến năm 2030”, Chính phủ ban hành Nghị quyết về bảo đảm an ninh lương thực quốc gia đến năm 2030.

Mục tiêu cụ thể của Nghị quyết là sử dụng linh hoạt quỹ đất lúa, nâng cao hiệu quả sử dụng đất lúa, giữ ổn định 3,5 triệu ha đất trồng lúa, hàng năm sản xuất ít nhất 35 triệu tấn lúa, làm nòng cốt bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, chế biến, dự trữ và xuất khẩu. Phát triển rau đậu các loại với diện tích 1,2 - 1,3 triệu ha và sản lượng 23 - 24 triệu tấn; cây ăn quả với diện tích 1,3 - 1,4 triệu ha và sản lượng 16 - 17 triệu tấn; sản lượng thịt xẻ các loại 6,0 - 6,5 triệu tấn, sữa tươi 2,6 triệu tấn, trứng gia cầm 23 tỷ quả; sản lượng thủy sản 9 - 10 triệu tấn...

Nông dân sản xuất lúa ở các vùng sản xuất lúa hàng hóa tập trung quy mô lớn có lãi bình quân trên 35% so với giá thành sản xuất. Thu nhập của người dân nông thôn cao hơn 2 lần năm 2020. Phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng, hệ thống lưu thông, phân phối để tăng cơ hội tiếp cận lương thực cho người dân...

Bảo đảm nhu cầu dinh dưỡng với khẩu phần ăn cân đối, giảm tỷ trọng sử dụng gạo, tăng sử dụng thịt, sữa, trứng, cá, rau, quả các loại góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân, đặc biệt là trẻ em tuổi học đường. Nâng cao mức tiêu thụ calo lên trên 2.500 Kcal/người/ngày; giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi thể thấp còi còn dưới 19% và thể nhẹ cân còn dưới 10,5%; tỷ lệ béo phì của trẻ em dưới 5 tuổi ở nông thôn dưới 5% và thành thị dưới 10%.

Trên cơ sở các mục tiêu trên, Nghị quyết đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp: Đẩy mạnh phát triển, cơ cấu lại sản xuất lương thực, gắn với thị trường; đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất lương thực; tăng cường nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học - công nghệ trong sản xuất, bảo quản, chế biến lương thực; đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đổi mới các hình thức tổ chức sản xuất lương thực; đổi mới cơ chế chính sách bảo đảm an ninh thực quốc gia; phát triển hệ thống lưu thông, tăng khả năng tiếp cận lương thực, thực phẩm cho người dân ở mọi lúc, mọi nơi;...

 ---------------------------

Tái cấp vốn tối đa 4.000 tỷ đồng các TCTD cho Vietnam Airlines vay

Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định số 450/QĐ-TTg quy định về việc Ngân hàng Nhà nước tái cấp vốn cho các tổ chức tín dụng sau khi tổ chức tín dụng cho Tổng công ty Hàng không Việt Nam – CTCP (VNA) vay bổ sung vốn phục vụ sản xuất kinh doanh theo Nghị quyết của Quốc hội và Nghị quyết của Chính phủ.

Quyết định này quy định về việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tái cấp vốn cho các tổ chức tín dụng sau khi các tổ chức tín dụng cho VNA vay bổ sung vốn phục vụ sản xuất kinh doanh theo Nghị quyết số 135/2020/QH14 ngày 17/11/2020 của Quốc hội (Nghị quyết của Quốc hội) và Nghị quyết số 24/NQ-CP ngày 29/7/2020 của Chính phủ về các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho VNA do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, Nghị quyết số 194/NQ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ về triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho VNA do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 (Nghị quyết của Chính phủ). 

Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước thực hiện tái cấp vốn bằng đồng Việt Nam, không có tài sản bảo đảm trên cơ sở đề nghị của tổ chức tín dụng và số tiền cho vay của các khoản cho vay của tổ chức tín dụng đối với VNA  theo Nghị quyết của Quốc hội và Nghị quyết của Chính phủ. Tổng số tiền giải ngân tái cấp vốn đối với các tổ chức tín dụng tối đa là 4.000 tỷ đồng. 

Các khoản cho vay của tổ chức tín dụng đối với VNA được tái cấp vốn là các khoản cho vay của tổ chức tín dụng đối với VNA theo Nghị quyết của Quốc hội và Nghị quyết của Chính phủ do VNA xác định. Lãi suất tái cấp vốn là 0%/năm; lãi suất áp dụng đối với nợ gốc tái cấp vốn quá hạn thực hiện theo quy định tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước. 

Quyết định nêu rõ, thời hạn tái cấp vốn theo đề nghị của tổ chức tín dụng, tối đa bằng thời hạn của khoản cho vay của tổ chức tín dụng theo Nghị quyết và không vượt quá 364 ngày. Khoản tái cấp vốn được tự động gia hạn 2 lần tại thời điểm đến hạn đối với dư nợ gốc tái cấp vốn còn lại; thời gian gia hạn mỗi lần bằng thời hạn tái cấp vốn; tổng thời gian tái cấp vốn và gia hạn tái cấp vốn tối đa không quá 3 năm. 

Ngân hàng Nhà nước giải ngân tái cấp vốn theo đề nghị của tổ chức tín dụng và đảm bảo số dư gốc khoản tái cấp vốn sau khi giải ngân không vượt quá dư nợ gốc khoản cho vay của tổ chức tín dụng theo Nghị quyết; trong thời gian tổ chức tín dụng vay tái cấp vốn, trường hợp dư nợ gốc khoản tái cấp vốn vượt quá dư nợ gốc khoản cho vay của tổ chức tín dụng theo Nghị quyết, tổ chức tín dụng có trách nhiệm chủ động hoàn trả lại Ngân hàng Nhà nước số tiền vượt này theo quy định tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước. Ngân hàng Nhà nước dừng giải ngân tái cấp vốn khi giải ngân hết 4.000 tỷ đồng nhưng không muộn hơn ngày 31/12/2021. 

Tổ chức tín dụng cho VNA vay có trách nhiệm xem xét và quyết định việc cho VNA vay theo Nghị quyết và quy định của pháp luật; theo dõi riêng khoản vay của VNA theo Nghị quyết; thỏa thuận với VNA về lãi suất, số tiền, thời hạn vay, hình thức bảo đảm tiền vay..., phù hợp với khả năng tài chính của tổ chức tín dụng, tài sản bảo đảm của VNA và tình hình tài chính của VNA đang bị ảnh hưởng nặng nề do dịch bệnh COVID-19; chịu trách nhiệm về quyết định cho vay đối với VNA.

Tổ chức tín dụng có trách nhiệm trả nợ tái cấp vốn cho Ngân hàng Nhà nước đầy đủ, đúng hạn và thực hiện các trách nhiệm khác theo quy định tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước. 

Căn cứ Nghị quyết của Quốc hội, Nghị quyết của Chính phủ và phương án sử dụng vốn của VNA để vay vốn tại các tổ chức tín dụng đã được Ủy ban Quản lý vốn có ý kiến đồng ý, VNA xác định khoản vay của VNA và thông báo để tổ chức tín dụng cho vay biết sau khi xác định; đảm bảo tổng số tiền vay của các khoản vay của VNA theo Nghị quyết tối đa là 4.000 tỷ đồng. 

 --------------------------

55 DN được tặng Giải thưởng Chất lượng Quốc gia năm 2020

Thủ tướng Chính phủ quyết định tặng Giải Vàng Chất lượng Quốc gia năm 2020 cho 19 doanh nghiệp và tặng Giải thưởng Chất lượng Quốc gia năm 2020 cho 36 doanh nghiệp.

Giải Vàng Chất lượng Quốc gia năm 2020 được trao cho 19 doanh nghiệp gồm:

13 doanh nghiệp sản xuất lớn: Công ty Cổ phần Việt Úc – Bạc Liêu; Công ty TNHH Chế biến Dừa Lương Quới; Công ty Cổ phần Phân bón dầu khí Cà Mau; Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam – chi nhánh 3 tại Đồng Nai; Công ty Cổ phần Thực phẩm Bích Chi; Chi nhánh Công ty Cổ phần Sao Thái Dương tại Hà Nam; Công ty Cổ phần ACECOOK Việt Nam; Công ty Cổ phần Cáp điện Thịnh Phát; Công ty Cổ phần Dược phẩm Nam Hà; Công ty Cổ phần Thực phẩm Sữa TH; Công ty cổ phần Hòa chất Việt Trì; Công ty Cổ phần Cấp nước Thừa Thiên Huế; Công ty Cổ phần Sản xuất Thép Việt Đức.

2 doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa: Công ty TNHH MTV Vĩnh Hoàn Collagen; Công ty TNHH Dược phẩm Nhất Nhất.

3 doanh nghiệp dịch vụ lớn: Tổng Công ty Tín Nghĩa; Công ty TNHH Trường Phát; Công ty Cổ phần Cảng dịch vụ dầu khí tổng hợp PTSC Thanh Hóa.

1 doanh nghiệp dịch vụ nhỏ và vừa là Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại Thủ đô.

Trong 36 doanh nghiệp nhận Giải thưởng Chất lượng Quốc gia, có 11 doanh nghiệp sản xuất lớn; 16 doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa; 2 doanh nghiệp dịch vụ lớn; 7 doanh nghiệp dịch vụ nhỏ và vừa.

Giải thưởng Chất lượng Quốc gia là một hình thức tôn vinh, khen thưởng hằng năm ở cấp quốc gia của Thủ tướng Chính phủ cho các tổ chức, doanh nghiệp đạt thành tích xuất sắc về chất lượng trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ; nâng cao vị thế các sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam, tăng cường năng lực, khả năng cạnh tranh và hội nhập trên thị trường trong nước và quốc tế; xây dựng văn hoá, phong trào năng suất, chất lượng trong tổ chức, doanh nghiệp nhằm đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế-xã hội của đất nước.

Việc tham dự Giải thưởng Chất lượng Quốc gia giúp doanh nghiệp có điều kiện học hỏi, đánh giá và cải tiến một cách toàn diện các hoạt động quản lý, chất lượng sản phẩm… Đây cũng là cơ hội tốt để các doanh nghiệp đạt giải thưởng quảng bá thương hiệu sản phẩm, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.

 ----------------------------

Quy hoạch hệ thống giáo dục chuyên biệt: Đáp ứng nhu cầu học tập của mọi người khuyết tật

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt nhiệm vụ lập Quy hoạch hệ thống cơ sở giáo dục chuyên biệt đối với người khuyết tật và hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Theo phê duyệt, phạm vi ranh giới quy hoạch là quy hoạch hệ thống cơ sở giáo dục chuyên biệt đối với người khuyết tật và hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được thực hiện trên phạm vi toàn quốc.

Mục tiêu lập quy hoạch nhằm phát triển hệ thống cơ sở giáo dục chuyên biệt đối với người khuyết tật và trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập đủ năng lực, quy mô, đáp ứng nhu cầu tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ giáo dục có chất lượng cho tất cả người khuyết tật; thực hiện công bằng trong tiếp cận giáo dục.

Quy hoạch là công cụ hiệu quả, hiệu lực của Nhà nước để tổ chức không gian, quản lý hệ thống cơ sở giáo dục chuyên biệt đối với người khuyết tật và trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập; là cơ sở để đưa ra lộ trình và triển khai kế hoạch đầu tư công trung hạn có hiệu quả trên địa bàn cả nước thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước nhằm phát triển hệ thống cơ sở giáo dục chuyên biệt đối với người khuyết tật và trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập.

Đồng thời, là cơ sở để khuyến khích, huy động các nguồn lực cộng đồng, xã hội hóa phát triển hệ thống cơ sở giáo dục chuyên biệt đối với người khuyết tật và trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ giáo dục, đáp ứng nhu cầu học tập của mọi người khuyết tật, hướng tới mục tiêu công bằng xã hội trong giáo dục người khuyết tật.

Dự báo các yếu tố ảnh hưởng tới hệ thống cơ sở giáo dục chuyên biệt

Nội dung lập quy hoạch gồm: Phân tích, đánh giá về các yếu tố, điều kiện tự nhiên, nguồn lực, bối cảnh và thực trạng phân bố, sử dụng không gian của hệ thống cơ sở giáo dục chuyên biệt đối với người khuyết tật và hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập trong phạm vi cả nước.

Dự báo xu thế phát triển, kịch bản phát triển, các yếu tố tác động, ảnh hưởng tới hệ thống cơ sở giáo dục chuyên biệt đối với người khuyết tật và hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập trong thời kỳ quy hoạch.

Đánh giá về sự liên kết ngành, liên kết vùng trong phát triển hệ thống cơ sở giáo dục chuyên biệt đối với người khuyết tật và hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập trong thời kỳ quy hoạch.

Xác định các quan điểm, mục tiêu phát triển hệ thống cơ sở giáo dục chuyên biệt đối với người khuyết tật và hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập trong thời kỳ quy hoạch.

Danh mục dự án quan trọng quốc gia, dự án ưu tiên đầu tư phát triển hệ thống cơ sở giáo dục chuyên biệt đối với người khuyết tật và hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập quốc gia, thứ tự ưu tiên thực hiện...

 -----------------------

Hải Dương phát triển thành tỉnh công nghiệp hiện đại, quy mô kinh tế lớn

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt nhiệm vụ lập quy hoạch tỉnh Hải Dương thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Quy hoạch tỉnh Hải Dương nhằm phát huy tối đa các tiềm năng riêng có, thế mạnh khác biệt và nổi trội để phát triển tỉnh Hải Dương thành tỉnh công nghiệp hiện đại, hướng tới trực thuộc trung ương, có quy mô kinh tế lớn, cơ cấu lại kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh, chuyển đổi số; đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực; đảm nhiệm vai trò là đầu mối giao lưu kinh tế - xã hội giữa vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Thủ đô Hà Nội, vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc với vùng Đông Bắc, vùng duyên hải Bắc bộ và cả nước; có tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định, bền vững với các sản phẩm chủ lực có sức cạnh tranh; hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ; đời sống vật chất, tinh thần không ngừng được nâng cao; công tác bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu được đảm bảo và quốc phòng, an ninh được giữ vững.

Quy hoạch tỉnh sắp xếp, phân bố không gian các hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh gắn với phát triển kết cấu hạ tầng, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường để sử dụng hiệu quả các nguồn lực của đất nước phục vụ mục tiêu phát triển bền vững cho thời kỳ xác định. Quy hoạch tỉnh là quy hoạch cụ thể hóa các quy hoạch cấp trên ở cấp tỉnh về không gian các hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hệ thống đô thị và phân bố dân cư nông thôn, kết cấu hạ tầng, phân bố đất đai, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường trên cơ sở kết nối quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn.

Quy hoạch tỉnh là công cụ pháp lý quan trọng hoạch định, kiến tạo động lực, không gian phát triển, đảm bảo tính kết nối đồng bộ giữa các quy hoạch cấp quốc gia với quy hoạch vùng và quy hoạch tỉnh, làm cơ sở lập quy hoạch xây dựng các vùng huyện và liên huyện; quy hoạch đô thị và nông thôn và các quy hoạch kỹ thuật chuyên ngành có liên quan; nhằm khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của tỉnh để phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững...

Chuyển đổi số 4 trụ cột chính

Theo yêu cầu về nội dung lập quy hoạch, định hướng phát triển, sắp xếp không gian và phân bố nguồn lực cho các hoạt động kinh tế - xã hội hướng đến tăng trưởng xanh, chuyển đổi số với 04 trụ cột: (1) công nghiệp công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ; (2) nông nghiệp hàng hóa tập trung ứng dụng công nghệ cao và nông nghiệp hữu cơ; (3) dịch vụ chất lượng cao; (4) đô thị xanh, thông minh, hiện đại.

Đồng thời, đảm bảo tính liên kết, đồng bộ, khai thác và sử dụng hiệu quả hệ thống kết cấu hạ tầng hiện có giữa các ngành, các vùng liên huyện, các địa phương trên địa bàn tỉnh và tăng cường liên kết vùng; xác định cụ thể các khu vực sử dụng cho mục đích quân sự, quốc phòng, an ninh ở cấp tỉnh, liên huyện và định hướng bố trí trên địa bàn cấp huyện...

Nội dung Quy hoạch tỉnh Hải Dương thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 phải thực hiện theo đúng các quy định tại Điều 27 Luật Quy hoạch và Điều 28 Nghị định số 37/2019/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ bao gồm: Phân tích, đánh giá, dự báo về các yếu tố, điều kiện phát triển đặc thù của địa phương; đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng đất, hiện trạng hệ thống đô thị và nông thôn; đánh giá về việc thực hiện Quy hoạch thời kỳ trước; xây dựng quan điểm, xác định mục tiêu và lựa chọn các phương án phát triển, phương án quy hoạch, phương hướng phát triển các ngành quan trọng và phương án tổ chức hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh...

 ----------------------

Phát triển đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 – 2030 với mục tiêu chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên trong cải tạo nâng cấp và phát triển đô thị, góp phần kiểm soát và giảm mức độ ô nhiễm không khí, nước, đất…

Đề án thực hiện trên hệ thống đô thị trên phạm vi toàn quốc (63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương), tập trung vào hệ thống đô thị ven biển, đồng bằng có nguy cơ ngập lụt và hệ thống các đô thị có nguy cơ cao chịu tác động của lũ quét, sạt lở đất tại các vùng miền núi phía Bắc, duyên hải ven biển miền Trung, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.

Đề án được lập cho giai đoạn từ nay đến 2030, tầm nhìn sau năm 2030.

Cụ thể, giai đoạn I (từ 2021-2025): Thực hiện tại 05 đô thị gồm thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Cần Thơ, Hải Phòng, Đà Nẵng và các đô thị thuộc 7 tỉnh vùng duyên hải Bắc bộ, duyên hải miền Trung, đồng bằng sông Cửu Long và 7 tỉnh vùng miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.

Giai đoạn II (từ 2026-2030): Thực hiện tại các đô thị ven biển, đồng bằng có nguy cơ ngập lụt; có nguy cơ cao chịu tác động của lũ quét, sạt lở đất tại các tỉnh thuộc vùng miền núi phía Bắc, duyên hải ven biển miền Trung, Đông Nam bộ, Tây Nguyên và các tỉnh có đô thị xuất hiện các tác động mới của biến đổi khí hậu.

Giai đoạn sau năm 2030: Mở rộng phạm vi áp dụng trên toàn quốc.

6 nhiệm vụ giải pháp

Đề án đề xuất tập trung thực hiện 06 nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm:

1- Điều tra, đánh giá mức độ tác động của biến đổi khí hậu đến phát triển hệ thống đô thị hiện có và đô thị dự kiến hình thành mới trong giai đoạn 2021 - 2030; khoanh vùng khu vực có nguy cơ chịu tác động cao của biến đổi khí hậu; tính toán khả năng và mức độ tự thích nghi, đề xuất giải pháp ứng phó; hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu và hệ thống bản đồ cảnh báo rủi ro biến đổi khí hậu tại đô thị (gọi tắt là Atlas Đô thị và Khí hậu).

2- Tích hợp nội dung ứng phó biến đổi khí hậu vào quy hoạch và chương trình, kế hoạch phát triển đô thị; cảnh báo các rủi ro tại các khu vực phát triển đô thị có khả năng chịu tác động từ biến đổi khí hậu.

3- Rà soát, bổ sung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn, các quy định liên quan đến phân loại đô thị, quy hoạch, quản lý đầu tư phát triển đô thị, nhà ở, hạ tầng kỹ thuật trong bối cảnh gia tăng nguy cơ rủi ro từ biến đổi khí hậu.

4- Hình thành hệ thống kiểm soát, hạn chế lũ, lụt, ngập úng trong đô thị. Hình thành hồ chứa điều tiết ngập lụt, khai thông, nạo vét, cải tạo, gia cố, nắn dòng cho các đường thoát nước đô thị. Xây dựng đê, kè, tường chắn lũ, phân dòng lũ, công trình chứa nước ngầm hiện đại quy mô lớn. Khoanh vùng bảo vệ và có giải pháp tái định cư và di dời dân trong vùng cảnh báo rủi ro. Phát triển nhà ở vượt lũ, nhà ở có khả năng chống chịu cao với gió bão.

5- Nâng cao năng lực cán bộ lãnh đạo, cán bộ chuyên môn các cấp về quản lý, phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu. Thông tin truyền thông về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới người dân, tăng cường phối hợp cộng đồng và các bên liên quan trong triển khai thực hiện.

6- Thực hiện các chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học - công nghệ, thực hiện các dự án thí điểm phát triển đô thị tăng trưởng xanh, thông minh, kiến trúc xanh, sinh thái ứng phó với biến đổi khí hậu; xây dựng công trình tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải; phát triển vật liệu xây dựng thân thiện với môi trường, tái sử dụng, tái chế.

 --------------------

Triển khai thi hành Luật Cư trú

Luật Cư trú có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2021. Để luật được triển khai thi hành kịp thời, thống nhất, hiệu quả, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch triển khai cụ thể.

Theo kế hoạch, tổ chức quán triệt, phổ biến Luật Cư trú, trong đó, tuyên truyền Luật Cư trú trên các phương tiện thông tin đại chúng; tổ chức tập huấn chuyên sâu, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ lãnh đạo cơ quan, tổ chức và người trực tiếp làm công tác đăng ký quản lý cư trú. Đồng thời tổ chức quán triệt Luật Cư trú cho cơ quan, tổ chức có liên quan tại địa phương; biên soạn tài liệu phục vụ công tác phổ biến Luật Cư trú và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Về xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Cư trú, Bộ Công an chủ trì xây dựng Nghị định thay thế Nghị định số 31/2014/NĐ-CP ngày 18/4/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú (xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn); Thông tư của Bộ Công an quy định chi tiết một số điều của Luật Cư trú; Thông tư của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về biểu mẫu sử dụng trong đăng ký, quản lý cư trú.

Bộ Quốc phòng chủ trì xây dựng Thông tư của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết điều kiện, hồ sơ, thủ tục đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú tại đơn vị đóng quân đối với người học tập, công tác, làm việc trong Quân đội nhân dân.

Về tổ chức triển khai kết nối, chia sẻ, khai thác sử dụng thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quản lý cơ sở dữ liệu chuyên ngành khẩn trương xây dựng kế hoạch cụ thể thực hiện kết nối, chia sẻ thông tin với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để ứng dụng giải quyết thủ tục hành chính, công tác chuyên môn.

Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp đẩy nhanh việc ứng dụng, khai thác thông tin trong cơ sở Dữ liệu quốc gia về dân cư vào công tác quản lý nhà nước.

Năm 2021 và năm 2022, các bộ, cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phương các cấp rà soát các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành có liên quan đến Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú hoặc có yêu cầu xuất trình giấy tờ, tài liệu xác nhận về cư trú để sửa đổi, bổ sung hoặc đề xuất cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, ban hành mới cho phù hợp với quy định của Luật cư trú, hạn chế việc sử dụng thông tin về nơi cư trú là điều kiện để thực hiện các thủ tục hành chính.

 ---------------------

Điều chỉnh phạm vi, quy mô khu kinh tế Đình Vũ – Cát Hải

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 13/2021/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 2 Quy chế hoạt động của khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải, thành phố Hải Phòng ban hành kèm theo Quyết định số 69/2011/QĐ-TTg ngày 13/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ đã được sửa đổi, bổ sung tại Quyết định số 39/2013/QĐ-TTg ngày 27/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ.

Cụ thể, Quyết định số 13/2021/QĐ-TTg đã sửa đổi về phạm vi, quy mô của khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải.

Theo quy định mới, khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải có tổng diện tích khoảng 22.540 ha bao gồm:

- Phần diện tích khu kinh tế hiện hữu là 22.540 ha.

- Đưa ra khỏi ranh giới khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải hiện hữu lấy từ đất ở đô thị theo quy hoạch trên địa bàn 02 xã Trung Hà và Ngũ Lão thuộc khu vực Bến Rừng, huyện Thủy Nguyên. Tổng diện tích đề nghị đưa ra khỏi ranh giới Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải là 687 ha.

- Bổ sung vào ranh giới khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải hiện hữu một phần của 04 xã An Tiên, Trường Thọ, Trường Thành và Bát Trang, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Tổng diện tích đề nghị bổ sung vào ranh giới Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải là 687 ha.

Phạm vi ranh giới khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải được xác định: Các xã: Thủy Triều, An Lư, Phục Lễ, Phả Lễ, Lập Lễ, Tam Hưng và một phần các xã Trung Hà, Ngũ Lão huyện Thủy Nguyên; một phần thuộc địa bàn các xã: Tân Dương, Thủy Sơn, Dương Quan, Thủy; toàn bộ đảo Vũ Yên; phường Tràng Cát, quận Hải An; bán đảo Đình Vũ, quận Hải An; Đảo Cát Hải gồm các xã: Văn Phong, Hoàng Châu, Nghĩa Lộ, Đồng Bài, thị trấn Cát Hải, huyện Cát Hải; một phần các xã: Lê Lợi, Hồng Phong, Bắc Sơn, An Hòa, huyện An Dương và một phần các xã: An Tiến, Trường Thọ, Trường Thành và Bát Trang, huyện An Lão.

Quyết định trên có hiệu lực từ ngày 12/5/2021.

Trước đó, Quyết định số 69/2011/QĐ-TTg ngày 13/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ quy định khu kinh tế Đình Vũ – Cát Hải có diện tích tự nhiên là 22.119,22 ha, bao gồm các xã: Trung Hà, Thủy Triều, An Lư, Ngũ Lão, Phục Lễ, Phả Lễ, Lập Lễ, Tam Hưng, huyện Thủy Nguyên; một phần thuộc địa bàn các xã: Tân Dương, Thủy Sơn, Dương Quan, Thủy Đường, huyện Thủy Nguyên; toàn bộ đảo Vũ Yên; phường Tràng Cát, quận Hải An; bán đảo Đình Vũ, quận Hải An; đảo Cát Hải gồm các xã: Văn Phong, Hoàng Châu, Nghĩa Lộ, Đồng Bài, thị trấn Cát Hải, huyện Cát Hải.

 -----------------------

Phát huy hết tiềm năng, lợi thế cảng biển Bà Rịa - Vũng Tàu

Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, trong đó có vấn đề phương hướng phát triển cảng biển Bà Rịa - Vũng Tàu.

Cụ thể, Thông báo nêu rõ, quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đã xác định Cảng biển Bà Rịa - Vũng Tàu là cảng tổng hợp quốc gia, cửa ngõ quốc tế (loại IA), đảm nhận vai trò là cảng trung chuyển quốc tế. Cảng biển Bà Rịa - Vũng Tàu cùng với Cảng biển Hải Phòng tạo thành hai cực quan trọng về phát triển cảng biển của Việt Nam với những lợi thế về điều kiện tự nhiên phát triển cảng và hậu phương cảng lớn, hai Cảng biển này đã hình thành hành lang kết nối các trung tâm kinh tế quan trọng nhất của cả nước (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh) và kết nối quốc tế với hàng chục hãng tàu biển lớn nhất trên thế giới.

Nhằm tạo sự chuyển biến thật sự trong thời gian tới, cần xem xét, đánh giá cách làm trong thời gian qua. Theo đó, xác định các điều kiện “cần” và “đủ” để khu vực cảng cửa ngõ, cảng trung chuyển phát huy hết tiềm năng, lợi thế; trong đó hội tụ được các điều kiện “cần” đã có (tự nhiên - địa lý) như: gần tuyến hàng hải quốc tế; điều kiện mớn nước sâu đủ khả năng tiếp nhận tàu có trọng tải lớn, không bị ảnh hưởng bởi sóng gió, khai thác được quanh năm, không sa bồi, gần các trung tâm hàng hóa xuất nhập khẩu lớn và các điều kiện “đủ” cần phải thực hiện được là: có hệ thống hạ tầng giao thông kết nối liên vùng thuận tiện (5 lĩnh vực giao thông); có trung tâm Logistic hiện đại chuyên nghiệp; có hệ thống ngân hàng, tài chính, bảo hiểm phù hợp; thủ tục hải quan, xuất nhập khẩu thuận tiện; có đội tàu đủ mạnh để giải tỏa hàng hóa nhanh…

Để thực hiện các yêu cầu trên nhằm phát triển nhanh, hiệu quả hệ thống cảng biển Cái Mép - Thị Vải, cần tăng năng lực hạ tầng bến cảng và hạ tầng kết nối; đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng như luồng hàng hải Cái Mép - Thị Vải, ưu tiên nạo vét đoạn luồng từ phao “0” vào đến khu bến Container Cái Mép đạt độ sâu đến -15,5m cho tàu lớn ra vào thuận tiện; rà soát lại cầu cảng, bến cảng, tận dụng tối đa tài nguyên mặt nước, chiều dài bến đủ tiếp nhận tàu lớn. Phát triển các bến sà lan (vận tải nội địa), bến tàu Feeder (vận tải ven biển) gom và phân phối hàng cho khu cảng Cái Mép - Thị Vải.

Nâng cấp các tuyến đường thủy nội địa kết nối Cái Mép với Đồng bằng Sông Cửu Long; quy hoạch hệ thống bến bãi gom hàng (cảng cạn/ICD) thực hiện dịch vụ Logistics trên các tuyến hành lang đường thủy nội địa kết nối Đồng bằng sông Cửu Long - Cái Mép và các tuyến hành lang đường thủy nội địa kết nối các khu vực Tây Ninh, Bình Dương với Cái Mép.

Sớm triển khai đầu tư cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu, cần hoàn thành xây dựng cầu Phước An (đây là 2 hạ tầng kết nối liên vùng, liên khu vực) tạo thuận lợi cho vận chuyển hàng hóa từ vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ đến Cái Mép - Thị Vải.

Tiếp tục nghiên cứu đoạn đường sắt Biên Hòa - Cái Mép như là một phần nối dài của tuyến đường sắt Bắc - Nam để vận chuyển hàng hóa từ các vùng miền đến Cái Mép - Thị Vải.

Tăng cường cơ sở hạ tầng phục vụ dịch vụ Logistics

Ngoài giải pháp nêu trên, cần tăng cường cơ sở hạ tầng phục vụ Logistics. Cụ thể, thúc đẩy sớm hình thành Trung tâm Logistics Cái Mép Hạ và hệ thống cảng cạn/kho bãi/ICD vệ tinh thực hiện hoạt động gom, thông quan và xử lý hàng hóa hỗ trợ cho khu cảng Cái Mép - Thị Vải. Nghiên cứu trung tâm phân phối hàng hóa kết nối sân bay quốc tế Long Thành và cảng biển Cái Mép - Thị Vải nhằm kết hợp vận tải đa phương thức.

Thủ tục thông quan nhanh chóng, sớm hình thành Trung tâm kiểm tra chuyên ngành tập trung với trang thiết bị  đầy đủ để kịp thời thông quan hàng hóa; Bộ Tài chính chỉ đạo Tổng Cục Hải Quan nghiên cứu, bổ sung quy định để việc chuyển khẩu qua lại giữa các bến tại Cái Mép được nhanh chóng.

Có chính sách thu hút hãng tàu, chủ hàng, các nhà cung cấp dịch vụ đại lý môi giới, bảo hiểm, tài chính. Để tăng thu hút tàu, hàng đến Cái Mép - Thị Vải cần định hướng phát triển khu vực này trở thành một mắt xích trong mạng lưới kết nối toàn cầu của các hãng tàu, các nhà khai thác cảng trung chuyển, các đại lý, môi giới, bảo hiểm hay các dịch vụ tài chính ngân hàng. Vì vậy, khi quy hoạch Thị xã Phú Mỹ hay Thành phố Vũng Tàu cần đặt yêu cầu trở thành nơi đặt trụ sở của hệ thống các đại lý vận tải biển, các nhà khai thác tàu trung chuyển, các đại lý, môi giới, bảo hiểm hay các dịch vụ tài chính ngân hàng, tạo nền tảng kết nối của cảng với mạng lưới cảng toàn cầu trong chuỗi cung ứng vận tải biển.

Phát triển mạnh mẽ công nghiệp nhằm tạo nguồn hàng tại chỗ; tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cần chú trọng phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất tạo chân hàng tại chỗ và giảm chi phí Logistics; nghiên cứu thành lập khu mậu dịch tự do tại Cái Mép để các tập đoàn chuyển các chuỗi cung ứng toàn cầu về khu vực này, tận dụng lợi thế cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải.

 ------------------------

Ứng phó hiệu quả sự cố tràn dầu

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng vừa ký ban hành Quy chế hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu.

3 cấp ứng phó sự cố tràn dầu

Theo đó, căn cứ vào mức độ sự cố tràn dầu, việc tổ chức, thực hiện ứng phó được tiến hành ở 3 cấp sau đây:

1- Cấp cơ sở: Sự cố tràn dầu xảy ra ở cơ sở: Chủ cơ sở tổ chức, chỉ huy lực lượng, phương tiện, thiết bị của mình hoặc lực lượng, phương tiện, thiết bị trong hợp đồng ứng phó sự cố tràn dầu để triển khai thực hiện ứng phó kịp thời. Chủ cơ sở xảy ra sự cố tràn dầu chịu trách nhiệm chỉ huy hiện trường. Trường hợp sự cố tràn dầu vượt quá khả năng, nguồn lực tại chỗ không đủ tự ứng phó, cơ sở phải kịp thời báo cáo cơ quan chủ quản, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (cấp tỉnh) trợ giúp. Trường hợp xảy ra sự cố tràn dầu nghiêm trọng hoặc sự cố tràn dầu xảy ra trong khu vực ưu tiên bảo vệ, Thủ trưởng các cơ quan đang giữ trách nhiệm là chỉ huy hiện trường báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra sự cố tràn dầu và Ủy ban Quốc gia ứng phó sự cố, thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn để chỉ đạo, kịp thời ứng phó.

2- Cấp khu vực: Sự cố tràn dầu xảy ra vượt quá khả năng ứng phó của cơ sở hoặc sự cố tràn dầu xảy ra chưa rõ nguyên nhân của các địa phương thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra sự cố tràn dầu có trách nhiệm trực tiếp chủ trì và chỉ định người chỉ huy hiện trường để tổ chức ứng phó theo kế hoạch của địa phương, đồng thời được phép huy động khẩn cấp nguồn lực cần thiết của các cơ sở, các bộ, ngành trên địa bàn, Trung tâm Ứng phó sự cố tràn dầu khu vực để ứng phó. Đầu mối chủ trì giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức ứng phó sự cố tràn dầu là Ban Chỉ huy Phòng chống, thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn cấp tỉnh.

3- Cấp Quốc gia: Trường hợp sự cố tràn dầu đặc biệt nghiêm trọng vượt quá khả năng của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra sự cố tràn dầu kịp thời báo cáo để Ủy ban Quốc gia ứng phó sự cố, thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn trực tiếp chỉ đạo, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức ứng phó. Trường hợp sự cố tràn dầu vượt quá khả năng ứng phó của các lực lượng trong nước, Ủy ban Quốc gia ứng phó sự cố, thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc yêu cầu trợ giúp quốc tế.

Trong quá trình tổ chức ứng phó sự cố tràn dầu ở các cấp nêu trên, cơ quan chủ trì hoặc chỉ huy hiện trường chủ động xử lý, báo cáo kịp thời diễn biến sự cố, đề xuất các kiến nghị cần thiết đến cấp có thẩm quyền và chịu trách nhiệm với quyết định của mình.

Phân loại mức độ sự cố tràn dầu

Sự cố tràn dầu được phân theo số lượng dầu tràn ở 3 mức từ nhỏ, trung bình đến lớn. Cụ thể: 1- Sự cố tràn dầu nhỏ (mức nhỏ) là sự cố tràn dầu có lượng dầu tràn dưới 20 m3 (tấn); 2- Sự cố tràn dầu trung bình (mức trung bình) là sự cố tràn dầu có lượng dầu tràn từ 20 m3 (tấn) đến 500 m3 (tấn); 3- Sự cố tràn dầu lớn (mức lớn) là sự cố tràn dầu có lượng dầu tràn lớn hơn 500 m3 (tấn).

Việc phân loại mức độ sự cố tràn dầu để xây dựng kế hoạch ứng phó và xác định mức độ đầu tư trang thiết bị, nguồn lực để chuẩn bị sẵn sàng, ứng phó kịp thời đối với các cấp độ ứng phó khác nhau.

Quy chế cũng nêu rõ quy định về chuẩn bị ứng phó sự cố tràn dầu cũng như tổ chức ứng phó sự cố tràn dầu, khắc phục và giải quyết hậu quả sự cố tràn dầu, đồng thời, nêu rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân đối với sự cố tràn dầu.

Trong đó nêu rõ, các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu, bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật Việt Nam. Các tổ chức, cá nhân có các hoạt động dịch vụ ứng phó tham gia vào kế hoạch ứng phó, khắc phục sự cố tràn dầu. Các tổ chức, cá nhân có khả năng thực hiện dịch vụ ứng phó, khắc phục sự cố tràn dầu báo cáo cơ quan chủ trì ứng phó kế hoạch khẩn cấp ứng phó sự cố tràn dầu theo cấp và khu vực mà tổ chức, cá nhân có khả năng tham gia. Các tổ chức, cá nhân tham gia vào danh sách nguồn lực sẵn sàng huy động, ứng phó sự cố tràn dầu theo cấp nào thì chấp hành lệnh điều động của cơ quan chủ trì triển khai kế hoạch khẩn cấp ứng phó sự cố tràn dầu cấp đó.

 ---------------------

Đầu tư xây dựng hạ tầng dùng chung Bến cảng Liên Chiểu (Đà Nẵng)

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng vừa ký quyết định phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng Bến cảng Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng - Phần cơ sở hạ tầng dùng chung.

Mục tiêu của Dự án là xây dựng cơ sở hạ tầng dùng chung Bến cảng Liên Chiểu tạo cơ sở phát triển cảng biển tại khu vực Liên Chiểu - thành phố Đà Nẵng. Giai đoạn đầu đáp ứng thông qua lượng hàng đến 5,0 triệu tấn/năm và phát triển các bến giai đoạn tiếp theo theo quy hoạch nhằm giảm tải cho khu bến Tiên Sa và Sơn Trà; giảm áp lực giao thông đường bộ đi qua nội đô thành phố Đà Nẵng; tăng cường kết nối vùng và liên vùng, góp phần phát triển bền vững kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng và trong khu vực.

Quy mô dự án gồm các hạng mục chính như kè chắn sóng, đê chắn sóng, luồng tàu, hạ tầng kỹ thuật kết nối có khả năng đáp ứng cho các tàu tổng hợp, hàng rời trọng tải đến 100.000 tấn, tàu công-ten-nơ có sức chở từ 6.000 đến 8.000 Teus.

Tổng mức đầu tư dự án dự kiến 3.426,3 tỷ  đồng. Nguồn vốn đầu tư từ Ngân sách trung ương giai đoạn 2021 - 2025 hỗ trợ dự án là 2.994,59 tỷ  đồng, phần còn lại sử dụng ngân sách địa phương của thành phố Đà Nẵng.

Thời gian thực hiện dự kiến từ năm 2021 đến năm 2025.

UBND thành phố Đà Nẵng thực hiện quy trình thủ tục đánh giá tác động môi trường của Dự án theo quy định pháp luật về bảo vệ môi trường; chỉ  được triển khai thực hiện Dự án sau khi Báo cáo đánh giá tác động môi trường Dự án được cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt theo quy định của pháp luật. Bảo đảm cân đối, bố trí đủ vốn của địa phương và vốn ứng trước trong trường hợp ngân sách Trung ương bố trí chưa kịp tiến độ để thực hiện Dự án hoàn thành vào năm 2025 như cam kết.

UBND thành phố Đà Nẵng cũng được yêu cầu khẩn trương triển khai các thủ tục để tổ chức lựa chọn nhà đầu tư đủ năng lực thực hiện đầu tư xây dựng, kinh doanh các bến cảng bảo đảm công khai, minh bạch tuân thủ quy định của Luật Đấu thầu, Luật Đất đai và các quy định liên quan. Chịu trách nhiệm bảo đảm tiến độ đưa các bến cảng vào khai thác hiệu quả đồng bộ với phần cơ sở hạ tầng dùng chung. Đồng thời phối hợp với Bộ Giao thông vận tải đầu tư, nâng cấp hệ thống giao thông kết nối với khu bến Liên Chiểu để bảo đảm đồng bộ với tiến độ đầu tư, khai thác các bến cảng.

 ---------------------------

Xem xét ban hành Nghị định mới về phạt VPHC trong bảo vệ môi trường

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng giao Bộ Tư pháp nghiên cứu nội dung báo cáo, giải trình của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tham mưu, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30/3/2021 để xem xét ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 155/2016/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho biết, trong thời gian qua, Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường được ban hành với khung và mức phạt cao, hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả nghiêm khắc, đã nêu cao tính răn đe, tạo sự chuyển biến tích cực đối với doanh nghiệp, người dân. Nhờ đó, ý thức bảo vệ môi trường của doanh nghiệp đã từng bước nâng lên, môi trường tại các khu công nghiệp, khu sản xuất, kinh doanh từng bước được cải thiện.

Đối với người dân, việc quy định thẩm quyền lập biên bản và xử phạt các vi phạm về xả thải tại các khu vực đô thị, khu dân cư, khu vui chơi, giải trí… cũng đã góp phần tác động sâu sắc đến nhận thức của các tầng lớp người dân trong xã hội, cải thiện môi trường đáng kể ở nơi công cộng các khu đô thị, khu dân cư.

Song, bên cạnh các kết quả đạt được, việc triển khai thực hiện Nghị định số 155/2016/NĐ-CP còn một số tồn tại, bất cập cần được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tế hiện nay, như: Chưa quy định rõ đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính, theo đó, nhiều trường hợp bị lúng túng khi áp dụng xử phạt như: xử phạt đối tượng là chi nhánh, là cơ quan quản lý nhà nước nhưng được giao nhiệm vụ đầu tư dịch vụ công…; một số thuật ngữ, cụm từ sử dụng trong Nghị định chưa rõ cách hiểu, chưa thống nhất; một số biện pháp khắc phục hậu quả quy định chung cho các hành vi...

Vì các lý do nêu trên, việc xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 155/2016/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là cần thiết và là yêu cầu thực tiễn khách quan.../.