Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 17/6/2019

7:15 PM, 17/06/2019

Tăng cường các biện pháp phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng trong hoạt động công vụ

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vừa ký Công điện số 724/CĐ-TTg ngày 17/6/2019 về việc tăng cường các biện pháp phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng trong hoạt động công vụ.

Công điện gửi các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nêu rõ:
Ngày 22 tháng 4 năm 2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 10/CT-TTg về việc tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc. Về cơ bản, các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức và cán bộ, công chức, viên chức đã tổ chức triển khai nghiêm túc và đạt được kết quả bước đầu, tạo hiệu ứng tích cực trong xã hội.
Tuy nhiên, trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, ở nhiều ngành,  nhiều cấp vẫn còn tình trạng cán bộ, công chức, viên chức vì động cơ cá nhân, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, sơ hở của chính sách, pháp luật… sách nhiễu, gây phiền hà, thậm chí tiêu cực, tham nhũng khi thực hiện hoạt động công vụ, gây bức xúc, làm xói mòn lòng tin của người dân, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội. Thời gian gần đây, đã xảy ra nhiều vụ việc tiêu cực, tham nhũng trong một số lĩnh vực (hải quan, thuế, quản lý thị trường…) và ngay cả trong chính lực lượng chức năng của thanh tra một số địa phương và Bộ, ngành. Đồng thời, dư luận xã hội cũng bức xúc về sự thiếu minh bạch, thiếu kiểm soát, nguy cơ tiềm ẩn tiêu cực, tham nhũng trong hoạt động công vụ của một số lĩnh vực nhạy cảm khác (điều tra, thi hành án, kiểm toán, tổ chức nội vụ…)
Trước tình hình nêu trên, để chủ động phòng ngừa vi phạm, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động công vụ, phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Thủ trưởng các cơ quan liên quan tập trung chỉ đạo, triển khai ngay các biện pháp sau:

1. Quán triệt, thực hiện nghiêm túc các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng về phòng chống tham nhũng, Luật Phòng chống tham nhũng năm 2018, các chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về Phòng chống tham nhũng, của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 22 tháng 4 năm 2019 về việc tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc. Người đứng đầu bộ, ngành, địa phương phải gương mẫu, đi đầu trong việc thực hiện các quy định của Đảng, Nhà nước về phòng chống tham nhũng; nếu để xảy ra tiêu cực, tham nhũng tại đơn vị, cơ quan mình thì phải chịu trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước; phải coi đấu tranh phòng, chống tham nhũng là một nhiệm vụ chính trị thường xuyên, liên tục, lâu dài, đặc biệt quan trọng và lấy làm tiêu chí để đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ hàng năm của từng cơ quan, đơn vị.

2. Đẩy mạnh phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi tham nhũng, tiêu cực trong chính lực lượng chức năng và đội ngũ cán bộ, công chức thực thi pháp luật. Thực hiện nghiêm quy tắc ứng xử, quy trình chuyên môn nghiệp vụ. Cần ban hành quy chế làm việc rõ ràng, minh bạch, cụ thể và có cơ chế kiểm soát hiệu quả đối với cán bộ, công chức khi thực thi nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, thi hành án, hải quan, thuế, quản lý thị trường… bảo đảm ngăn chặn cho được tình trạng lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, "vòi vĩnh", "chung chi", phục vụ động cơ cá nhân, vụ lợi trong thực thi công vụ

3. Từng cơ quan, đơn vị phải ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin để hạn chế tối đa việc tiếp xúc trực tiếp của cán bộ, công chức, viên chức với người dân, doanh nghiệp khi giải quyết công việc; tăng cường sử dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4. Triển khai rộng rãi hệ thống ghi âm, ghi hình, camera trực tuyến tại các địa điểm có tiếp xúc trực tiếp với người dân, doanh nghiệp và có bộ phận thường trực để theo dõi, giám sát thường xuyên.

Công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng số điện thoại đường dây nóng để tiếp nhận các ý kiến phản ánh của người dân, doanh nghiệp về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức để có biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời vi phạm.

4. Người đứng đầu bộ, ngành, địa phương, cơ quan phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát đối với các cơ quan, đơn vị, đặc biệt là các cơ quan, lực lượng thực thi pháp luật có yếu tố nhạy cảm cao trong việc chấp hành những quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, trong thực thi công vụ, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chế độ công vụ, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm; kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy những cán bộ, công chức, viên chức thoái hóa, biến chất, vi phạm pháp luật; định kỳ luân chuyển, thay đổi vị trí công tác đối với những vị trí nhạy cảm, phức tạp theo đúng quy định; đồng thời, lựa chọn, bố trí người có đủ phẩm chất, đạo đức, năng lực chuyên môn nghiệp vụ để đảm nhiệm các vị trí nhạy cảm, nhất là đối với các trưởng đoàn thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra viên…
5. Phát huy vai trò giám sát của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan báo chí và nhân dân trong việc phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng trong hoạt động công vụ. Yêu cầu các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan liên quan tổ chức thực hiện nghiêm Công điện này; định kỳ hàng năm báo cáo tình hình thực hiện về Thanh tra Chính phủ để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Thanh tra Chính phủ theo dõi, đôn đốc việc thực hiện Công điện; kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ các vấn đề phát sinh.

Thủ tướng chỉ thị kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2019

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vừa ký ban hành Chỉ thị số 15/CT-TTg về việc kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2019.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Tài nguyên và Môi trường và các bộ, ngành có liên quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức thực hiện kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2019 trên phạm vi cả nước. Mục đích việc kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2019 nhằm đánh giá thực trạng tình hình sử dụng đất đai của từng đơn vị hành chính các cấp xã, huyện, tỉnh, các vùng kinh tế và cả nước để làm cơ sở đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất đai của các cấp trong 5 năm qua và đề xuất cơ chế, chính sách, biện pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất; đồng thời làm cơ sở cho việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp giai đoạn 2021 - 2030 và là cơ sở quan trọng để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Nội dung kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất của từng đơn vị hành chính các cấp trong năm 2019, bao gồm: a) Diện tích các loại đất theo quy định tại Điều 10 của Luật Đất đai năm 2013; diện tích các loại đối tượng đang sử dụng đất, đối tượng đang quản lý đất theo quy định tại Điều 5 và Điều 8 của Luật Đất đai năm 2013. Trong đó, kiểm kê chi tiết các loại đất trồng lúa, đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng;

b) Diện tích đất ngập nước, đất khu bảo tồn thiên nhiên, đất cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học theo quy định tại Điều 16 và Điều 35 của Luật Đa dạng sinh học;

c) Tình hình sử dụng đất do doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp cổ phần hóa quản lý sử dụng; đất do các ban quản lý rừng và các doanh nghiệp sản xuất nông, lâm nghiệp sử dụng; đất tại các dự án xây dựng nhà ở thương mại; đất xây dựng các công trình sự nghiệp ngoài công lập, công trình công cộng có mục đích kinh doanh; đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích.

Thời điểm thực hiện từ ngày 01/8/2019

Chỉ thị nêu rõ: Thời điểm triển khai thực hiện kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất được thực hiện thống nhất trên phạm vi cả nước từ ngày 01/8/2019. Số liệu kiểm kê đất đai năm 2019 được tính đến ngày 31/12/2019.

Thời hạn hoàn thành và báo cáo kết quả kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2019 như sau: Cấp xã hoàn thành và báo cáo kết quả trước ngày 16/01/2020; cấp huyện hoàn thành và báo cáo kết quả trước ngày 01/3/2020; cấp tỉnh hoàn thành và báo cáo kết quả trước ngày 16/4/2020; cả nước và các vùng kinh tế - xã hội hoàn thành trước ngày 16/6/2020.

Bộ Quốc phòng, Bộ Công an hoàn thành và gửi kết quả cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước ngày 16/01/2020 để tổng hợp, báo cáo; gửi kết quả về Bộ Tài nguyên và Môi trường trước ngày 16/4/2020.

Kinh phí kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2019 do ngân sách nhà nước bảo đảm, cân đối trong dự toán ngân sách được giao hàng năm.

Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn biểu mẫu, phương pháp kiểm kê

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường tổng hợp nhu cầu kinh phí thực hiện kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2019 của các địa phương và đề xuất hỗ trợ kinh phí cho các địa phương có khó khăn do không cân đối đủ ngân sách, trìnhThủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định; hướng dẫn biểu mẫu, phương pháp kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2019; chỉ đạo, tập huấn, kiểm tra, đôn đốc thực hiện và kiểm tra kết quả kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất của các tỉnh, thành trực thuộc trung ương trên phạm vi cả nước…

Bộ Quốc phòng và Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện kiểm kê đất quốc phòng, đất an ninh để thống nhất số liệu phục vụ yêu cầu tổng hợp kết quả kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2019 của từng địa phương; đồng thời gửi báo cáo kết quả về Bộ Tài nguyên và Môi trường để tổng hợp.

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xây dựng phương án, kế hoạch, bố trí kinh phí thực hiện, tổ chức chỉ đạo các sở, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp huyện, xã thực hiện; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ kịp thời khó khăn trong quá trình thực hiện.

Xử lý thông tin báo nêu lao động “chui” bằng đường du học

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc giao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Giáo dục và Đào tạo xử lý thông tin báo nêu về lao động “chui” bằng đường du học.

Báo Điện tử Tiền Phong số ra ngày 03 tháng 6 năm 2019 phản ánh như sau: Tình trạng các công ty hoạt động trong lĩnh vực tư vấn du học nhưng mục đích đưa lao động sang nước ngoài làm việc diễn ra khá phổ biến. Quảng cáo vừa học, vừa làm vẫn có thu nhập 36-60 triệu đồng/tháng, nên nhiều bạn trẻ đã sập bẫy vì thực tế không như mơ, rủi ro không đổi được visa dài hạn, khi về nước mang một gánh nợ lớn.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc giao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Giáo dục và Đào tạo xử lý tồn tại kéo dài như thông tin nêu trên.

Điều kiện của người được đề nghị đặc xá

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 52/2019/NĐ-CP trong đó quy định cụ thể các điều kiện của người được đề nghị đặc xá.

Các điều kiện gồm:

1- Người bị kết án phạt tù có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự quy định tại điểm a khoản 1 Điều 11 Luật Đặc xá là người đã chấp hành nghiêm Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, tích cực học tập, lao động, cải tạo và các quý đã đủ thời gian xếp loại trong quá trình chấp hành án phạt tù được xếp loại khá hoặc tốt.

2- Người bị kết án phạt tù đã thi hành xong nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 11 Luật Đặc xá là người thuộc một trong các trường hợp sau: a- Đã thi hành xong nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác theo bản án, quyết định của Tòa án; b- Có quyết định đình chỉ thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền; c- Có văn bản đề nghị của người được thi hành án hoặc đại diện hợp pháp của người được thi hành án về việc không phải thi hành nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác theo bản án, quyết định của Tòa án đối với tài sản không thuộc sở hữu nhà nước.

3- Người bị kết án phạt tù đã thi hành được một phần nghĩa vụ tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác nhưng do lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp chưa có điều kiện thi hành tiếp phần còn lại là trường hợp người đó và gia đình không còn tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để thi hành án và không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án, người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng.

4- Người bị kết án phạt tù đã lập công lớn trong thời gian chấp hành án phạt tù quy định tại điểm a khoản 3 Điều 11 Luật Đặc xá là người thuộc một trong các trường hợp sau: a- Đã có hành động giúp trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự phát hiện, truy bắt, điều tra, xử lý tội phạm; b- Cứu được tính mạng người khác hoặc tài sản lớn (có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên) của Nhà nước, của tập thể, của công dân trong thiên tai, hỏa hoạn; c- Có những phát minh, sáng kiến có giá trị lớn hoặc thành tích đặc biệt xuất sắc khác được trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xác nhận.

Người đã có quyết định thi hành án phạt tù lập công lớn trong thời gian chờ đưa đến trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để chấp hành án phạt tù cũng được coi là lập công lớn trong thời gian chấp hành án phạt tù.

5- Người bị kết án phạt tù đang mắc bệnh hiểm nghèo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 11 Luật Đặc xá là người mắc một trong các bệnh: Ung thư giai đoạn cuối; liệt; lao nặng kháng thuốc; xơ gan cổ chướng; suy tim độ III trở lên; suy thận độ IV trở lên; bệnh HIV giai đoạn lâm sàng IV đang có nhiễm trùng cơ hội, không có khả năng tự phục vụ bản thân và có tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao hoặc mắc bệnh khác mà được Hội đồng giám định y khoa hoặc bệnh viện cấp tỉnh, cấp quân khu trở lên kết luận bằng văn bản là không tự phục vụ bản thân, nguy cơ tử vong cao.

6- Người bị kết án phạt tù đang ốm đau thường xuyên mà không tự phục vụ bản thân quy định tại điểm c khoản 3 Điều 11 Luật Đặc xá là người đang phải nằm điều trị tại bệnh xá, bệnh viện liên tục từ 03 tháng trở lên hoặc không liên tục nhưng phải nằm điều trị tại bệnh viện từ ba lần trở lên, mỗi lần từ 01 tháng trở lên, không tự phục vụ bản thân, có kết luận bằng văn bản của Hội đồng giám định y khoa hoặc bệnh viện cấp tỉnh, cấp quân khu trở lên.

7- Người bị kết án phạt tù có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và bản thân là lao động duy nhất trong gia đình quy định tại điểm e khoản 3 Điều 11 Luật Đặc xá là trường hợp gia đình của người bị kết án phạt tù đang lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn do tai nạn, ốm đau, thiên tai, hỏa hoạn hoặc sự kiện bất khả kháng khác dẫn đến không còn tài sản gì đáng kể, không có thu nhập hoặc thu nhập dưới mức chuẩn hộ nghèo hoặc có bố đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con ốm nặng kéo dài, không có người chăm sóc mà người đó là lao động duy nhất trong gia đình, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi gia đình người đó cư trú xác nhận là đúng.

Hồ sơ đề nghị đặc xá bao gồm các văn bản, tài liệu quy định tại Điều 14 Luật Đặc xá.

Triển khai phong trào thi đua thực hiện văn hóa công sở

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Kế hoạch tổ chức thực hiện Phong trào thi đua "Cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở" giai đoạn 2019 - 2025.

Xây dựng đội ngũ cán bộ gương mẫu

Mục đích của Kế hoạch nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức và hành động; tự tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao ý thức, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức; tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính; phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí qua đó tiếp tục xây dựng hình ảnh đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Việt Nam gương mẫu, tận tụy, chuẩn mực, chuyên nghiệp, trách nhiệm, kỷ cương, tận tình, thân thiện; đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thông qua những việc làm cụ thể hàng ngày, trên mọi lĩnh vực công tác.

Đồng thời, bảo đảm tính liên tục và hiệu quả hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, tạo môi trường làm việc văn minh, hiện đại, chuyên nghiệp, trách nhiệm, minh bạch, hiệu quả góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì Nhân dân phục vụ.

Nội dung thi đua

Đối với tập thể "Thi đua xây dựng cơ quan, đơn vị văn minh, hiện đại, xanh, sạch, đẹp". Nội dung thi đua gồm: Xây dựng, ban hành các chính sách, quy định, nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị về văn hóa công sở; thực hiện đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, công khai, minh bạch, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian giải quyết công việc tại cơ quan, đơn vị; thực hiện ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan, đơn vị; xây dựng và giữ gìn cơ quan, đơn vị văn minh, hiện đại, xanh, sạch, đẹp.

Cùng với đó là tổ chức các phòng trào thi đua thiết thực, hiệu quả với nội dung, hình thức phong phú, đa dạng, bám sát các nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị để thu hút, tập hợp sự tham gia của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức góp phân hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Đối với cán bộ, công chức, viên chức "Thi đua thực hiện kỷ cương, trách nhiệm, tận tụy, chuyên nghiệp". Nội dung thi đua gồm: Thực hiện chấp hành nghiêm túc kỷ cương, kỷ luật hành chính; thực hiện chuyên nghiệp về chuyên môn, nghiệp vụ; tinh thần, thái độ làm việc tận tụy, nghiêm túc, trách nhiệm; thực hiện chuẩn mực trong giao tiếp, ứng xử; thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện chuẩn mực về đạo đức, lối sống; trang phục gọn gàng, sạch sẽ, lịch sự, phù hợp với tính chất công việc; tích cực tham gia các phòng trào thi đua yêu nước do cơ quan, đơn vị và địa phương phát động, tổ chức.

Phòng trào thi đua được triển khai thực hiện từ năm 2019 đến năm 2025. Hàng năm, Hội đồng Thi đua - Khen thưởng các bộ, ngành, địa phương lấy kết quả triển khai tổ chức thực hiện Phong trao thi đua là nội dung quan trọng để đánh giá thi đua và xem xét khen thưởng cho các đơn vị thuộc, trực thuộc.

Nhân sự UBND tỉnh Đắk Lắk

Tại Quyết định 736/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả miễn nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk, nhiệm kỳ 2016 - 2021 đối với ông Nguyễn Hải Ninh, để nhận nhiệm vụ mới.

Trước đó, Bộ Chính trị đã điều động và bổ nhiệm ông Nguyễn Hải Ninh, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk giữ chức Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.

Ông Nguyễn Hải Ninh sinh năm 1976 tại tỉnh Hưng Yên, từng giữ chức Vụ trưởng, Thư ký của Chánh Văn phòng Trung ương Đảng. Ngày 7/11/2014, ông Nguyễn Hải Ninh được luân chuyển tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk, sau đó được bầu giữ chức vụ Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk.

Công điện của Thủ tướng Chính phủ về khắc phục hậu quả TNGT tại Hòa Bình

Phó Thủ tướng Chính phủ Trương Hòa Bình vừa ký công điện gửi các Bộ: Công an, Giao thông vận tải; Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia và UBND các tỉnh Hòa Bình, Điện Biên về khắc phục hậu quả vụ tai nạn giao thông đường bộ đặc biệt nghiêm trọng tại tỉnh Hòa Bình.

Nội dung công điện như sau:

Vào lúc 0h20 phút ngày 17/6/2019, tại Km134+300 trên tuyến Quốc lộ 6, thuộc địa phận xã Đồng Bảng, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình đã xảy ra một vụ TNGT đặc biệt nghiêm trọng. Xe tải loại 5 tấn biển kiểm soát Lào UN-8500 lưu thông hướng Sơn La - Hà Nội đã đâm vào xe khách giường nằm mang biển kiểm soát 27B-003.71 của Công ty TNHH Long Giang (Điện Biên) lưu thông theo hướng ngược lại. Hậu quả, 03 người chết, 37 người bị thương trong đó có 02 người bị thương rất nặng.

Ngay sau khi nhận được thông tin về vụ tai nạn, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hoà Bình - Chủ tịch Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia đã gửi lời chia buồn tới gia đình các nạn nhân tử vong, động viên, thăm hỏi các nạn nhân bị thương, phân công đồng chí Khuất Việt Hùng - Phó Chủ tịch chuyên trách Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia trực tiếp đến hiện trường vụ tai nạn, phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình chỉ đạo giải quyết, khắc phục hậu quả, thăm hỏi, hỗ trợ động viên nạn nhân và gia đình nạn nhân trong vụ tai nạn; đồng thời yêu cầu:

1. Đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Trưởng ban An toàn giao thông tỉnh Hòa Bình chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chức năng của tỉnh:

- Huy động những điều kiện tốt nhất về y tế để cứu chữa những nạn nhân bị thương; tổ chức thăm hỏi, hỗ trợ động viên gia đình các nạn nhân tử vong và các nạn nhân bị thương trong vụ tai nạn.

- Khẩn trương xử lý hiện trường, điều tiết giao thông, sớm giải tỏa để thông xe nhanh nhất.

- Khẩn trương điều tra, làm rõ nguyên nhân, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm gây ra vụ tai nạn.

- Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm hành vi vi phạm pháp luật trật tự, an toàn giao thông, nhất là vi phạm của lái xe tải, xe khách.

2. Bộ Giao thông vận tải

- Cùng với Sở Giao thông vận tải tỉnh Điện Biên và Hòa Bình kiểm tra toàn diện về việc chấp hành các quy định kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô đối với doanh nghiệp là chủ sở hữu phương tiện trong vụ tai nạn, xử lý nghiêm theo quy định pháp luật nếu phát hiện vi phạm. Đặc biệt xem xét trách nhiệm của lãnh đạo Công ty TNHH Long Giang (Điện Biên), khi trước đó ngày 27/3/2019 tại tỉnh Vĩnh Phúc, xe ô tô khách mang BKS 27B 003.43 của công ty đã đâm vào đoàn người đưa tang làm 07 người bị chết, 01 người bị thương nặng; kiểm tra điều kiện an toàn của kết cấu hạ tầng giao thông trên tuyến Quốc lộ 6, kịp thời cung cấp thông tin liên quan về hạ tầng, tổ chức giao thông, phương tiện và người lái gây tai nạn cho cơ quan công an để điều tra nguyên nhân vụ tai nạn.

- Chỉ đạo Tổng cục Đường bộ Việt Nam tăng cường giám sát thông tin qua thiết bị giám sát hành trình của xe ô tô, kịp thời cung cấp dữ liệu cho các lực lượng của ngành Công an và Sở Giao thông vận tải để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với xe vi phạm; đồng thời tổ chức kiểm tra việc thực hiện quy định pháp luật về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải, đặc biệt tập trung vào các quy định bảo đảm an toàn giao thông đối với lái xe kinh doanh vận tải như: Thời gian làm việc, khám sức khỏe và bảo đảm sức khỏe cho lái xe, tập huấn an toàn giao thông, các chế độ đối với lái xe và xử lý nghiêm theo quy định pháp luật nếu phát hiện sai phạm.

- Rà soát toàn bộ việc cấp phép và hoạt động của các phương tiện liên vận nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam; có biện pháp xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các vi phạm.

3. Bộ Công an

- Chỉ đạo lực lượng Cảnh sát giao thông tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, phát hiện và xử lý nghiêm hành vi vi phạm pháp luật trật tự, an toàn giao thông trong hoạt động vận tải đường bộ;

- Cùng với Bộ Giao thông vận tải và các Bộ, ngành, địa phương có liên quan kiểm soát chặt chẽ tình hình cấp phép và hoạt động đối với các phương tiện ô tô liên vận biển kiểm soát nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.

Hải Phòng phải là thành phố đi đầu trong nền kinh tế số của Việt Nam

Xây dựng Hải Phòng là trung tâm kinh tế phía Bắc, thành phố thông minh, các mô hình sản xuất và dịch vụ thông minh; phát triển công nghệ mới, nhất là công nghệ 4.0 và nền kinh tế số. Hải Phòng phải là một trong những thành phố đi đầu trong nền kinh tế số của Việt Nam, với quy mô phát triển ngang tầm với các thành phố lớn trong nước và trong khu vực.

Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại buổi làm việc với lãnh đạo thành phố Hải Phòng

Thông báo nêu rõ, để thực hiện thắng lợi mục tiêu, phương hướng phát triển thành phố, Hải Phòng cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đã nêu tại Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, đặc biệt là triển khai hiệu quả Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/1/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; quán triệt, nhận thức sâu sắc hơn nữa vị trí, vai trò, thế mạnh, tiềm năng, đề cao trách nhiệm, quyết tâm cao hơn trong việc xây dựng và phát triển Thành phố.

Cụ thể, về định hướng phát triển, xây dựng Hải Phòng là trung tâm kinh tế phía Bắc, thành phố thông minh, các mô hình sản xuất và dịch vụ thông minh; phát triển công nghệ mới, nhất là công nghệ 4.0 và nền kinh tế số. Hải Phòng phải là một trong những thành phố đi đầu trong nền kinh tế số của Việt Nam, với quy mô phát triển ngang tầm với các thành phố lớn trong nước và trong khu vực. Cùng với đó, phát triển hệ thống cảng biển hiện đại, sân bay đạt tiêu chuẩn quốc tế, thu hút nhiều hãng hàng không mở thêm nhiều chuyến bay đi và đến với Hải Phòng. Phấn đấu trở thành trung tâm dịch vụ Logistics lớn nhất Việt Nam.

Bên cạnh đó, thực hiện tốt công tác quy hoạch với tầm nhìn xa hơn cho Hải Phòng trong tương lai là thành phố có trình độ phát triển cao, nằm trong nhóm các thành phố hàng đầu Châu Á và thế giới, trong đó hướng đến phát triển không gian đô thị ngầm, hệ thống tàu điện ngầm, công viên cây xanh, vườn hoa, hồ nước và công trình kiến trúc có sức hấp dẫn mạnh mẽ, độc đáo gây ấn tượng với thế giới… tạo môi trường “sống, xanh, an toàn” cho người dân và du khách. Do vậy, tiếp tục huy động mọi nguồn lực cho phát triển thành phố Hải Phòng; chú trọng đầu tư xây dựng nông thôn mới đảm bảo bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân ở khu vực nông thôn.

Đẩy mạnh phát triển hệ thống hạ tầng du lịch, dịch vụ, đô thị, các khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế; những khu du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, các sản phẩm du lịch đa dạng, đặc sắc… để Hải Phòng là điểm đến hấp dẫn của du khách trong và ngoài nước. Có cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi nhất cho thu hút đầu tư và triển khai các dự án dịch vụ, du lịch mang thương hiệu tầm cỡ quốc gia, quốc tế để ngành du lịch thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn của Thành phố.

Phối hợp chặt chẽ, tăng cường liên kết với các địa phương trong vùng và cả nước, nhất là tam giác Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Huy động các nguồn lực để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nghiên cứu các cơ chế, chính sách, mô hình tốt để vận dụng sáng tạo, phù hợp với điều kiện của Hải Phòng. Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, hiện đại hóa, đẩy nhanh tiến độ các công trình hạ tầng; công khai minh bạch quy hoạch, dự án, cơ chế, chính sách để nhân dân biết, đồng tình ủng hộ, thực hiện. Khai thác tối đa hiệu quả của các công trình hạ tầng đã đưa vào sử dụng. Khơi dậy khát vọng, thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp, sáng tạo của người dân, nhất là trong thời đại 4.0.

Thực hiện quyết liệt các giải pháp cụ thể để gia tăng năng lực sản xuất của từng lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực còn tiềm năng phát triển, lĩnh vực có mức tăng trưởng thấp hoặc giảm. Đẩy nhanh cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất ứng dụng công nghệ cao, sản xuất hàng hoá quy mô lớn, đặc biệt chú trọng hình thành các liên kết theo chuỗi hiệu quả và bền vững, nâng cao giá trị gia tăng, gắn với thị trường; thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Nghiên cứu các chính sách hỗ trợ nông dân tại các vùng sản xuất nguyên liệu phục vụ nhà máy chế biến nông sản.

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện trong công tác, chỉ đạo, điều hành của các cơ quan chính quyền các cấp, xây dựng nền hành chính thông thoáng, khoa học, tạo các điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển sản xuất kinh doanh. Xây dựng các kênh tiếp nhận và xử lý hiệu quả, nhanh chóng ý kiến, phản hồi của người dân, doanh nghiệp, công khai kết quả tạo điều kiện cho người dân giám sát. Hải Phòng phấn đấu đạt thứ hạng cao nhất về cải cách hành chính, năng lực cạnh tranh.

Tạo điều kiện tốt nhất cho phát triển kinh tế tư nhân

Tập trung giải quyết những vấn đề nổi cộm, gây bức xúc trong xã hội; kiên quyết xử lý nghiêm hành vi nhũng nhiễu trong thực hiện nhiệm vụ, thực thi công vụ; công khai, minh bạch, ngăn chặn biểu hiện ”lợi ích nhóm”, “thao túng chính sách”. Tạo điều kiện tốt nhất cho phát triển kinh tế tư nhân thông qua việc tạo môi trường đầu tư kinh doanh bình đẳng, được bảo vệ, khích lệ và trao cơ hội, trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế. Đồng thời cơ cấu lại, đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo cơ chế thị trường, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác.

Tập trung nguồn lực đầu tư tương xứng cho các lĩnh vực văn hóa xã hội, bảo đảm môi trường sống an ninh, an toàn, văn minh, trong lành, đáng sống. Phát triển các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trở thành một trọng điểm về phát triển khoa học - công nghệ, thu hút nhà khoa học, người tài về sống và lập nghiệp tại Hải Phòng. Nghiên cứu thí điểm thi tuyển một số chức danh, chọn cán bộ giỏi về công tác tại một số Sở, ngành để đóng góp tài năng cho Hải Phòng.

Đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, phát huy đầy đủ vai trò làm chủ của người dân, đẩy mạnh dân chủ cơ sở. Chú trọng công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, phẩm chất, năng lực, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ đảng viên, công chức, viên chức; thực hiện tốt công tác cán bộ và trách nhiệm nêu gương. Tạo chuyển biến trong toàn hệ thống chính trị, tổ chức bộ máy, xây dựng nội bộ đoàn kết thống nhất cao.

Chú trọng tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân. Thực hiện tốt an sinh xã hội, chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, các hộ nghèo. Củng cố quốc phòng an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội, giảm các tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội, không để xảy ra điểm nóng.

Đồng Tháp phấn đấu giải quyết căn bản khiếu nại, tố cáo kéo dài

Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản truyền đạt kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình - Tổ trưởng Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ tại buổi làm việc về kiểm tra, chỉ đạo giải quyết một số vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài tại tỉnh Đồng Tháp.

Trong những năm gần đây, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Đồng Tháp đã rất quan tâm, chỉ đạo, lãnh đạo đối với công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung và đặc biệt là các vụ việc tập trung đông người, vượt cấp, phức tạp. Công tác tiếp công dân, kiểm tra, rà soát đơn thư khiếu nại, tố cáo được chủ động thực hiện. Tình hình khiếu nại, tố cáo trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp trong thời gian qua được kiểm soát; cơ bản các vụ việc được xem xét, giải quyết kịp thời, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, không phát sinh các vụ việc phức tạp mới.

Trong năm 2018 và 6 tháng đầu năm 2019, các cơ quan hành chính trên địa bàn tỉnh đã tiếp công dân thường xuyên và định kỳ với hơn 10.000 lượt người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; trong đó có 5 đoàn khiếu nại đông người; tiếp nhận hơn 3.000 đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; đã xử lý hơn 1.800/3.000 đơn đủ điều kiện; trong đó đã giải quyết được 732/788 vụ việc khiếu nại và 16/17 vụ việc tố cáo.

Mặc dù chất lượng giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo từng bước được nâng cao nhưng tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp vẫn còn diễn biến phức tạp. Đa số các đoàn công dân khiếu kiện phức tạp, đông người liên quan đến những vụ việc cũ, kéo dài nhiều năm, đã được nhiều cơ quan tiếp, đối thoại nhưng công dân không đồng ý, tiếp tục khiếu kiện tại một số dự án có thu hồi diện tích đất lớn như: Dự án khu di tích Gò Tháp, huyện Tháp Mười; Nông trường Gáo Giồng, huyện Cao Lãnh; Vườn Quốc gia Tràm Chim, huyện Tam Nông...

Trong thời gian tới, Phó Thủ tướng yêu cầu cấp ủy và chính quyền tỉnh Đồng Tháp cần tập trung xác định rõ mục tiêu từ nay đến hết năm 2020, phấn đấu giải quyết căn bản các vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài và hạn chế phát sinh các vụ việc khiếu nại tố cáo đông người nhằm góp phần đảm bảo ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội phục vụ tốt các sự kiện chính trị quan trọng như Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII và Đại hội Đảng các cấp, bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử Đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.

Cấp ủy và chính quyền các cấp của tỉnh Đồng Tháp cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, thực hiện tốt Chỉ thị số 35/CT-TW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại tố cáo.

Đồng thời tăng cường thanh tra, kiểm tra trách nhiệm trong lĩnh vực quy hoạch, quản lý đất đai, chấn chỉnh nghiêm những tồn tại, sai phạm trong công tác quản lý đất đai. Việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải công khai, minh bạch, đúng chính sách, pháp luật; vận dụng tối đa chính sách trên cơ sở quy định của pháp luật để có biện pháp hỗ trợ phù hợp cho người dân, bảo đảm cho người bị thu hồi đất có cuộc sống ổn định, bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.

Tỉnh Đồng Tháp cần tiếp tục thực hiện các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với một số vụ việc cụ thể, không để tình trạng công dân tập trung khiếu kiện tại các cơ quan Trung ương; tổ chức đối thoại công khai, làm rõ nội dung còn có ý kiến khác nhau; trao đổi thống nhất tạo sự đồng thuận về hướng giải quyết vụ việc; nếu người khiếu kiện có hoàn cảnh thực sự khó khăn cần xem xét vận dụng chính sách để có biện pháp hỗ trợ, ổn định cuộc sống, sớm chất dứt khiếu kiện. Nâng cao hiệu quả tiếp công dân, nghiêm túc thực hiện chế độ tiếp công dân định kỳ và đột xuất, công khai lịch tiếp công dân. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra trách nhiệm của các cấp, các ngành trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Giải quyết kịp thời, dứt điểm, đúng quy định vụ việc khiếu nại, tố cáo mới phát sinh ngay từ cấp cơ sở; thực hiện tốt các quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý tố cáo đã có hiệu lực, phấn đấu tỷ lệ trên 90%.

Các cơ quan chuyên môn của tỉnh cần nghiên cứu kỹ khi vận dụng quy định của pháp luật qua các thời kỳ để tham mưu cho UBND cấp huyện, cấp tỉnh giải quyết bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai tránh làm lây lan thành "điểm nóng" khiếu kiện đông người. Nếu có vướng mắc thì kịp thời xin ý kiến của Thanh tra Chính phủ và Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Khi xảy ra vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, Chủ tịch UBND tỉnh phải đề cao trách nhiệm, trực tiếp đối thoại với người dân, có biện pháp chỉ đạo giải quyết kịp thời, không để phát sinh thành "điểm nóng". Khi công dân kéo ra Hà Nội để khiếu kiện, UBND tỉnh cần phối hợp với Ban Tiếp công dân Trung ương và các cơ quan chức năng của thành phố Hà Nội để có kế hoạch và biện pháp đưa dân về địa phương để giải quyết theo quy định của pháp luật, bảo đảm an ninh, trật tự.

Bên cạnh đó, cần tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị tạo sự đồng thuận về hướng giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài; đặc biệt đối với vụ việc nổi cộm, Tỉnh ủy cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết thông qua các định hướng cụ thể để UBND tỉnh lập phương án khả thi và xác định rõ lộ trình giải quyết dứt điểm vụ việc.

Lập Quy hoạch Khu du lịch quốc gia Mũi Cà Mau

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng giao UBND tỉnh Cà Mau chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện lập Quy hoạch chung xây dựng Khu Du lịch quốc gia Mũi Cà Mau.

Bộ Xây dựng sẽ tổ chức thẩm định Quy hoạch. Trên cơ sở đó, UBND tỉnh Cà Mau trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật.

Trước đó, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Mũi Cà Mau, tỉnh Cà Mau đến năm 2030.

Mục tiêu phấn đấu đến năm 2025, Khu du lịch Mũi Cà Mau trở thành trọng điểm lớn nhất của tỉnh Cà Mau; là một trong những trung tâm du lịch sinh thái, trải nghiệm rừng ngập mặn đặc sắc, điểm đến quan trọng trên hành trình tham quan vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đến năm 2030, Khu du lịch Mũi Cà Mau đáp ứng các tiêu chí và được công nhận là Khu du lịch quốc gia./.