Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 1/4

7:30 PM, 01/04/2021

Bổ sung kinh phí mua vắc xin phòng bệnh COVID – 19

Thủ tướng Chính phủ quyết định trích 1.237 tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách trung ương năm 2021 để bổ sung dự toán chi ngân sách nhà nước năm 2021 của Bộ Y tế thực hiện mua và tiêm vắc xin phòng bệnh COVID-19.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính, Bộ Y tế chịu trách nhiệm toàn diện về tính chính xác của nội dung và số liệu báo cáo. Bộ Y tế có trách nhiệm thực hiện cơ chế mua vắc xin phòng COVID-19 theo đúng quy định, bảo đảm kịp thời, hiệu quả, tiết kiệm, công khai, minh bạch.

Bộ Y tế khẩn trương xây dựng và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Kế hoạch tổng thể phòng, chống dịch bệnh COVID-19 năm 2021 (bao gồm kế hoạch chi tiết về mua, sử dụng 150 triệu liều vắc xin phòng COVID-19; nguồn kinh phí đảm bảo thực hiện Kế hoạch; trách nhiệm đảm bảo nguồn kinh phí mua vắc xin, tổ chức tiêm vắc xin của từng cấp chính quyền, cấp ngân sách nhà nước, tổ chức cá nhân sử dụng vắc xin tự nguyện chi trả,...).

Thành lập Khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao vùng Bắc Trung Bộ

Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao vùng Bắc Trung Bộ.

Khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao vùng Bắc Trung Bộ (Khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao) được xây dựng tại các xã Nghi Lâm, Nghi Văn, Nghi Kiều, Nghi Hợp, Nghi Xá huyện Nghi Lộc, xã Đại Sơn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An với diện tích 618 ha bao gồm 03 phân khu chức năng chính.

Phân khu 1 có chức năng là trung tâm sản xuất giống cây lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao (gồm cả rừng giống, vườn giống cây đầu dòng, vườn ươm, mô hình trồng rừng thâm canh, rừng khảo nghiệm giống), công suất 200 triệu cây/năm từ mô và hom với diện tích 48 ha tại xã Nghi Lâm, huyện Nghi Lộc.

Phân khu 2 có chức năng là khu sản xuất chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ ứng dụng công nghệ cao chuỗi sản xuất khép kín, chuyên môn hóa cao, sản xuất cung ứng các sản phẩm phụ trợ ngành gỗ và đào tạo nguồn lao động chất lượng cao cho ngành công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ với diện tích 530 ha trên địa bàn các xã Nghi Văn, Nghi Kiều (huyện Nghi Lộc) và xã Đại Sơn (huyện Đô Lương).

Phân khu 3 có chức năng là sàn giao dịch kết hợp triển lãm giới thiệu gỗ nguyên liệu và các sản phẩm chế biến từ gỗ và lâm sản ngoài gỗ với diện tích 40 ha trên địa bàn các xã: Nghi Xá, Khánh Hợp, huyện Nghi Lộc.

Theo quyết định, các dự án đầu tư vào Khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao vùng Bắc Trung Bộ được hưởng các chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật.

Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày được cấp có thẩm quyền bàn giao đất, chủ đầu tư phát triển Khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao phải bảo đảm hoàn thành việc xây dựng hạ tầng cơ sở như: đường giao thông nội bộ, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống điện, hệ thống xử lý nước thải và môi trường.

Thủ tướng Chính phủ giao Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An chỉ đạo các cơ quan chuyên môn cập nhật nhu cầu sử dụng đất của Khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao vùng Bắc Trung Bộ vào quy hoạch tỉnh Nghệ An thời kỳ 2021-2030, kế hoạch sử dụng đất tỉnh Nghệ An 5 năm (2021-2025), quy hoạch sử dụng đất cấp huyện thời kỳ 2021-2030, kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo đúng quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về quy hoạch; việc triển khai Đề án Khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao vùng Bắc Trung Bộ chỉ được thực hiện sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo đúng quy định của pháp luật đất đai, quy hoạch và đảm bảo tuân thủ đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật có liên quan.

Tổ chức thực hiện thu hồi đất, đền bù, giải phóng mặt bằng, giao đất, cho thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất để xây dựng Khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao vùng Bắc Trung Bộ và triển khai các dự án trong khu đúng quy mô, địa điểm, tiến độ quy định, đúng thẩm quyền, tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật về công nghệ cao, đất đai, đầu tư, đầu tư công và quy định của pháp luật khác liên quan, đảm bảo công khai, minh bạch, chặt chẽ, đúng và đầy đủ theo đúng quy định của pháp luật, hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất, không để xảy ra tham nhũng, làm thất thoát tài sản, ngân sách của nhà nước, khiếu kiện; xây dựng phương án thu hồi đất phù hợp với tiến độ thu hút đầu tư vào Khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao để giảm thiểu tối đa ảnh hưởng tiêu cực đến người dân bị thu hồi đất.

Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định tổ chức quản lý khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao vùng Bắc Trung Bộ, đảm bảo nguyên tắc tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, không tăng đầu mối quản lý và phát sinh biên chế; ban hành Quy chế hoạt động của Khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao vùng Bắc Trung Bộ, tuyệt đối không để xảy ra việc lợi dụng chính sách.

Chỉ đạo việc xây dựng, thẩm định, phê duyệt và tổ chức thực hiện quy hoạch chi tiết Khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao vùng Bắc Trung Bộ theo quy định của pháp luật; chỉ đạo việc đầu tư xây dựng và thực hiện quản lý nhà nước đối với Khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao vùng Bắc Trung Bộ theo đúng thẩm quyền và quy định của pháp luật; chỉ được cho phép các dự án, doanh nghiệp đầu tư đáp ứng các tiêu chí, điều kiện về công nghệ cao, các dự án thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên phát triển, các dự án nghiên cứu, sản xuất, chế tạo ra sản phẩm thuộc danh mục các sản phẩm công nghệ cao khuyến khích phát triển được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật; thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

Phê duyệt kinh phí bầu cử đại biểu Quốc hội, HĐND các cấp

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tổng mức kinh phí bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026 và phân bổ kinh phí (đợt 2).

Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tổng mức kinh phí bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 từ nguồn dự toán chi quản lý hành chính của ngân sách trung ương năm 2021 là 1.500 tỷ đồng.

Trong đó, kinh phí phân bổ cho các địa phương là 1431,671 tỷ đồng. Kinh phí phân bổ cho các Bộ, cơ quan trung ương là 37,85 tỷ đồng. Kinh phí dự phòng là 30,479 tỷ đồng.

Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ sung đợt 2 số tiền 736,199 tỷ đồng từ nguồn chi quản lý hành chính của ngân sách trung ương năm 2021 cho các Bộ, cơ quan trung ương và các địa phương để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026.

Cụ thể, kinh phí bổ sung cho các Bộ, cơ quan Trung ương là 20,36 tỷ đồng. Kinh phí bổ sung có mục tiêu cho các địa phương là 715,839 tỷ đồng.

Bộ Tài chính chịu trách nhiệm toàn diện về tính chính xác của thông tin và số liệu báo cáo; thực hiện thông báo kinh phí bổ sung (đợt 2) cho các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương.

Các Bộ, cơ quan Trung ương, địa phương căn cứ dự toán ngân sách nhà nước năm 2021 được giao và kinh phí được bổ sung để chủ động triển khai thực hiện các nhiệm vụ phục vụ bầu cử năm 2021. Việc quản lý, sử dụng, thanh quyết toán số kinh phí được bổ sung bảo đảm đúng quy định, hiệu quả, tiết kiệm, công khai, minh bạch.

6/5 là Ngày Thống kê Việt Nam

Thủ tướng Chính phủ quyết định lấy ngày 6 tháng 5 hằng năm là ngày truyền thống của Thống kê Việt Nam với tên gọi là “Ngày Thống kê Việt Nam”.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu việc tổ chức kỷ niệm “Ngày Thống kê Việt Nam” phải bảo đảm theo đúng Nghị định số 111/2018/NĐ-CP ngày 31/8/2018 của Chính phủ quy định về ngày thành lập, ngày truyền thống, ngày hưởng ứng của các bộ, ngành, địa phương; đồng thời bảo đảm thiết thực, tiết kiệm, hiệu quả và tránh hình thức, giáo dục truyền thống, động viên phong trào thi đua lao động, công tác, nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật, tuân thủ luật pháp, khơi dậy và phát huy niềm vinh dự, tự hào, trách nhiệm trong thi hành nhiệm vụ, công vụ của công chức, viên chức, người lao động của ngành Thống kê Việt Nam nói riêng và người làm công tác thống kê trong cả nước nói chung.

Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào quy định hiện hành có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện Ngày Thống kê Việt Nam theo đúng quy định.

Huyện Cần Giờ (TP Hồ Chí Minh) đạt chuẩn nông thôn mới

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã ký quyết định công nhận huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh đạt chuẩn nông thôn mới.

Khẩn trương hoàn thành hỗ trợ khắc phục thiệt hại nhà ở do thiên tai

Báo VnExpress ngày 27/3/2021 có phản ánh tại xã Thạch Hóa, huyên Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình: "Nhiều người dân mòn mỏi chờ tái định cư sau sạt lở".

Về việc này, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc có ý kiến như sau:

Giao Ban chỉ đạo trung ương về phòng, chống thiên tai chủ trì, phối hợp với các Bộ: Tài chính, Lao động - Thương binh và Xã hội và các cơ quan liên quan kiểm tra, chỉ đạo các địa phương (trong đó có tỉnh Quảng Bình) khẩn trương hoàn thành việc hỗ trợ khắc phục thiệt hại về nhà ở cho các hộ dân theo Nghị quyết số 165/NQ-CP ngày 5/11/2020 của Chính phủ, bảo đảm các hộ dân thuộc đối tượng hỗ trợ có chỗ ở ổn định, an toàn trước mùa mưa bão năm 2021.

Thủ tướng sẽ giao ban trực tuyến đôn đốc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công

Thủ tướng Chính phủ đồng ý với đề xuất của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức Hội nghị giao ban trực tuyến của Thủ tướng Chính phủ với các bộ, cơ quan, địa phương Quý I năm 2021 đôn đốc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công năm 2021.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, chuẩn bị kỹ Báo cáo tổng hợp đánh giá tình hình triển khai kế hoạch đầu tư công những tháng đầu năm 2021; đề xuất giải pháp đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công năm 2021.

Các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương chuẩn bị các nội dung phục vụ cuộc họp theo đúng ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 1141/VPCP-KTTH ngày 22/2/2021.

Đưa đồng bằng sông Cửu Long phát triển thịnh vượng, bền vững

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu các bộ, ngành, địa phương liên quan tập trung thực hiện nhiều giải pháp đột phá hơn nữa đưa vùng đồng bằng sông Cửu Long phát triển thịnh vượng, bền vững.

Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 12% diện tích và 19% dân số của cả nước, trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn nhất của Việt Nam đóng góp 50% sản lượng lúa, 95% lượng gạo xuất khẩu, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản, 60% sản lượng cá xuất khẩu và 70% các loại trái cây của cả nước, là khu vực có tầm quan trọng trong bảo đảm an ninh, chính trị, phát triển kinh tế của đất nước. Vì vậy, trong nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước đã xây dựng chính sách, huy động nguồn lực, triển khai nhiều giải pháp nhằm phát huy tiềm năng, lợi thế, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội đồng bằng sông Cửu Long, nhất là trong bối cảnh khu vực này tiếp tục chịu tác động nặng nề hơn của biến đổi khí hậu.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc giao Bộ Tài nguyên và Môi trường, với vai trò là cơ quan thường trực, tiếp tục tập hợp rà soát, tập hợp, tổng hợp ý kiến đóng góp thiết thực cả trong và ngoài nước, chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương có liên quan hoàn thiện quan điểm tiếp cận chiến lược mới về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu (Quan điểm chiến lược 8G), bổ sung những nội dung còn thiếu vào Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2017 theo hướng tập trung thực hiện nhiều giải pháp đột phá hơn nữa đưa vùng đồng bằng sông Cửu Long phát triển thịnh vượng, bền vững.

Lan tỏa kết nối vùng

Cụ thể, về phát triển hạ tầng giao thông, Thủ tướng giao Bộ Giao thông vận tải phối hợp với các bộ, ngành và địa phương liên quan ưu tiên tập trung nguồn lực phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, đặc biệt là các công trình quan trọng có tính động lực, lan tỏa kết nối vùng và liên vùng như các tuyến đường bộ cao tốc Bắc Nam kết nối đồng bằng sông Cửu Long với Đông Nam Bộ, tuyến Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng, An Hữu - Cao Lãnh, Mỹ An - Cao Lãnh, các cầu đặc biệt lớn như Rạch Miễu 2, Đại Ngãi, nâng cấp một số tuyến quốc lộ là điểm nghẽn trong vùng; hoàn chỉnh luồng cho tàu biển lớn vào Sông Hậu giai đoạn 2, luồng kênh chợ Gạo giai đoạn 2, triển khai đầu tư dự án phát triển các hành lang đường thủy và logistics khu vực phía Nam…; nghiên cứu để kêu gọi đầu tư tuyến đường sắt từ thành phố Hồ Chí Minh đi Cần Thơ.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trong vùng phối hợp với Bộ Giao thông vận tải và các bộ ngành liên quan tập trung các nguồn lực đầu tư xây dựng tuyến đường bộ ven biển, các tuyến đường do địa phương quản lý để kết nối và phát huy hiệu quả đầu tư của các tuyến cao tốc, quốc lộ, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội; kêu gọi đầu tư xây dựng các cảng lớn trong vùng như cảng Trần Đề, cảng Long An... đáp ứng nhu cầu xuất khẩu hàng hóa trực tiếp, giảm chi phí trung chuyển

Bộ Giao thông vận tải nghiên cứu bổ sung làm rõ khái niệm kinh tế sông đưa vào Nghị quyết số 120/NQ-CP để có các giải pháp cụ thể tận dụng tối đa các lợi thế từ hệ thống sông ngòi, kênh rạch của vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Đẩy mạnh giáo dục trình độ cao

Về giáo dục, đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Cửu Long đảm bảo cho mọi người dân, đặc biệt là trẻ em phải được học hết phổ thông; định hướng giáo dục nghề đảm bảo cho người dân, nhất là các đối tượng dễ bị tổn thương tiếp cận việc làm cơ bản; đẩy mạnh giáo dục trình độ cao để nâng cao về năng suất, thu nhập, sẵn sàng về lao động với kỹ năng nghề nghiệp gắn với thích ứng với biến đổi khí hậu, hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao từ kỹ thuật đến lãnh đạo để quản trị sự thay đổi của vùng trước thiên nhiên; thực hiện các chính sách thu hút tài năng, đóng góp chất xám, trí tuệ cho phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long, ứng phó hiệu quả với thách thức của biến đổi khí hậu.

Về liên kết vùng, thúc đẩy liên kết nội vùng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Cửu Long đẩy mạnh thực hiện các giải pháp nhằm tăng cường đầu tư, gắn kết nội vùng, liên kết với thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ.

Về an sinh xã hội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đề xuất các chính sách chủ động đối với vấn đề dân số già hóa và hình thành mạng lưới an sinh xã hội tốt hơn để nâng cao phúc lợi cho người già, những người yếu thế; lồng ghép vào các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội các nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới, tạo điều kiện tiếp cận cơ hội việc làm và phát huy vai trò, vị trí của người phụ nữ.

Nâng cao năng lực cạnh tranh

Thủ tướng yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tưp hối hợp với các Bộ, ngành liên quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng sông Cửu Long thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và mỗi địa phương, thúc đẩy sự linh hoạt của chính sách, các yếu tố kinh tế nhằm thu hút đầu tư (gồm cả nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức và vốn vay ưu đãi nước ngoài và các nguồn vốn hợp pháp khác…), thúc đẩy hình thành các doanh nghiệp triển khai các dự án trong vùng và liên vùng thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng.

Đồng thời, phối hợp với Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nghiên cứu cơ chế huy động vốn, thúc đẩy sự phát triển thị trường tài chính, tạo lập nguồn vốn đầu tư, các dự án phát triển sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu; ưu tiên nguồn lực của nhà nước để đầu tư cho kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, các dự án thích ứng với biến đổi khí hậu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long; nghiên cứu cơ chế để hỗ trợ theo phương thức đối ứng phù hợp với từng địa phương.

Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu

Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Tài chính nghiên cứu đưa ngân sách chi cho ứng phó với biến đổi khí hậu thành một nhiệm vụ chi chính trong ngân sách địa phương để chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng sông Cửu Long xem xét dành ngân sách cần thiết để ứng phó với biến đổi khí hậu từ nay đến năm 2025 để chi cho các chương trình, nhiệm vụ ứng phó với biến đổi khí hậu. Nghiên cứu cơ chế về thuế đối với phát thải khí nhà kính để khuyến khích cắt giảm phát thải khí nhà kính, chia sẻ trở lại nguồn thu để hỗ trợ các địa phương bị tác động nặng của biến đổi khí hậu.

Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan thúc đẩy phát triển kinh tế đô thị, kiểm soát tốt quy hoạch để nâng cấp, phát triển các thành phố, thị xã, thị tứ trong vùng; quy hoạch, sắp xếp lại dân cư ứng phó hiệu quả với nước biển dâng.

Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu, sửa đổi chính sách, pháp luật đất đai nhằm thúc đẩy chuyển đổi đất đai để thích nghi với nhu cầu và mục đích sử dụng đất trước sự biến đổi nhanh chóng và khó lường của thiên nhiên. Nghiên cứu để có cơ sở linh hoạt trong quy hoạch diện tích đất trồng lúa để chuyển đổi mục đích sử dụng sang các cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn, có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu đảm bảo thu nhập và sinh kế bền vững của người dân. Nâng cao năng lực cảnh báo thiên tai, xây dựng các kịch bản ứng phó với biến đổi khí hậu trong các thời điểm hàng năm.

Lập Hội đồng kiểm tra nhà nước nghiệm thu công trình xây dựng

Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định thành lập Hội đồng kiểm tra nhà nước về công tác nghiệm thu công trình xây dựng (Hội đồng).

Về cơ cấu tổ chức của Hội đồng, Bộ trưởng Bộ Xây dựng làm Chủ tịch Hội đồng.

Các Phó Chủ tịch Hội đồng gồm: Thứ trưởng Bộ Xây dựng (Phó Chủ tịch Thường trực); Thứ trưởng Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành có liên quan; Lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi xây dựng công trình.

Các Ủy viên Hội đồng gồm: Cục trưởng Cục Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng (Ủy viên Thường trực Hội đồng:); Lãnh đạo cơ quan chuyên môn về xây dựng hoặc cơ quan chuyên môn theo phân công (sau đây gọi là cơ quan chuyên môn) trực thuộc Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành có liên quan; Giám đốc Sở Xây dựng địa phương nơi xây dựng công trình; Lãnh đạo Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành địa phương nơi xây dựng công trình; Người đại diện theo pháp luật của chủ đầu tư xây dựng công trình.

Hội đồng làm việc theo chế độ tập thể dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hội đồng.

Hội đồng có nhiệm vụ kiểm tra công tác nghiệm thu bao gồm: định kỳ hoặc đột xuất trong quá trình thi công xây dựng; tại các giai đoạn chuyển bước thi công quan trọng và khi hoàn thành thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình để đưa vào khai thác, sử dụng theo quy định.

Bên cạnh đó, báo cáo Thủ tướng Chính phủ định kỳ hàng năm về kết quả hoạt động của Hội đồng, tình hình triển khai thi công xây dựng, công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng; báo cáo đột xuất về những vấn đề kỹ thuật phát sinh, các khó khăn, vướng mắc, bất cập vượt thẩm quyền cần có ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục các công trình Hội đồng tổ chức kiểm tra hàng năm; thực hiện các nhiệm vụ khác do Thủ tướng Chính phủ giao.

Hội đồng có quyền yêu cầu chủ đầu tư, nhà thầu và các cơ quan, tổ chức có liên quan báo cáo, cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho hoạt động của Hội đồng; chủ trì hoặc yêu cầu chủ đầu tư, các cơ quan, tổ chức liên quan giải quyết các vấn đề tồn tại hoặc xử lý các vấn đề kỹ thuật phát sinh được Hội đồng phát hiện trong quá trình kiểm tra công trình.

Hội đồng cũng có quyền yêu cầu chủ đầu tư tạm dừng thi công đối với các tổ chức, cá nhân liên quan khi phát hiện chất lượng thi công xây dựng không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, biện pháp thi công không đảm bảo an toàn, có nguy cơ xảy ra sự cố công trình xây dựng; đình chỉ tham gia xây dựng công trình đối với cá nhân liên quan không đáp ứng điều kiện hành nghề theo quy định; kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định của pháp luật trong hoạt động đầu tư xây dựng công trình.

Tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh đồ ăn chay

Báo Tiền Phong điện tử (tienphong.vn) ngày 26/3/2021 có bài “Bỏ ngỏ quản lý thực phẩm chay” phản ánh: Xu hướng ăn chay ngày càng thịnh hành đã thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh đồ ăn chay phát triển. Tuy nhiên nếu không được quản lý, kiểm soát chặt chẽ thì nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe người tiêu dùng là điều khó tránh khỏi.

Về việc này, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc có ý kiến chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tăng cường quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh đồ ăn chay, bảo đảm an toàn thực phẩm, xử lý nghiêm các trường hợp sai phạm theo đúng quy định.

Được trừ khoản chi ủng hộ phòng, chống COVID-19 khi tính thuế TNDN

Theo Nghị định số 44/2021/NĐ-CP của Chính phủ, doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản chi ủng hộ, tài trợ bằng tiền, hiện vật cho các hoạt động phòng, chống dịch COVID – 19 tại Việt Nam thông qua các đơn vị nhận ủng hộ, tài trợ.

Đơn vị nhận ủng hộ, tài trợ bao gồm: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp; cơ sở y tế; đơn vị lực lượng vũ trang; đơn vị, tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao nhiệm vụ làm cơ sở cách ly tập trung; cơ sở giáo dục; cơ quan báo chí; các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; tổ chức đảng, đoàn thanh niên, công đoàn các cấp ở trung ương và địa phương; cơ quan, đơn vị chính quyền địa phương các cấp có chức năng huy động tài trợ; Quỹ phòng, chống dịch COVID - 19 các cấp; Cổng thông tin điện tử nhân đạo quốc gia; quỹ từ thiện, nhân đạo và tổ chức có chức năng huy động tài trợ được thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật.

Các đơn vị nhận ủng hộ, tài trợ có trách nhiệm sử dụng, phân phối đúng mục đích của khoản ủng hộ, tài trợ cho các hoạt động phòng, chống dịch COVID – 19 đã tiếp nhận.

Hồ sơ xác định khoản chi ủng hộ, tài trợ gồm có: Biên bản xác nhận ủng hộ, tài trợ theo mẫu ban hành kèm theo Nghị định này hoặc văn bản, tài liệu (hình thức giấy hoặc điện tử) xác nhận khoản chi ủng hộ, tài trợ có chữ ký, đóng dấu của người đại diện doanh nghiệp là bên ủng hộ, tài trợ và đại diện của đơn vị nhận ủng hộ, tài trợ; kèm theo hoá đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật của khoản ủng hộ, tài trợ bằng tiền hoặc hiện vật.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 31/3/2021 và áp dụng cho kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020 và năm 2021.

Xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy

Công an xã chính quy là Công an cấp cơ sở, bố trí ở các đơn vị hành chính xã, thị trấn, thuộc hệ thống tổ chức của Công an nhân dân; làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc ở địa bàn xã, thị trấn.

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 42/2021/NĐ-CP quy định việc xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy.

Nghị định này quy định vị trí, thẩm quyền quyết định của tổ chức Công an xã, thị trấn chính quy (sau đây gọi chung là Công an xã chính quy); lộ trình thực hiện; quan hệ công tác, điều kiện bảo đảm hoạt động của Công an xã chính quy; trách nhiệm của các bộ, ngành; Ủy ban nhân dân các cấp trong xây dựng Công an xã chính quy.

Trong đó, việc xây dựng Công an xã chính quy bảo đảm không tăng biên chế của Bộ Công an đến năm 2021, có lộ trình và phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.

Về quan hệ công tác của Công an xã chính quy, Trưởng Công an xã chịu sự chỉ huy, quản lý trực tiếp của Trưởng Công an cấp huyện về công tác bảo đảm an ninh, trật tự và xây dựng lực lượng Công an xã.

Trưởng Công an xã chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã, sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp về công tác bảo đảm an ninh, trật tự trên địa bàn.

Quan hệ giữa Công an xã với các cơ quan, tổ chức, đoàn thể trên địa bàn là quan hệ phối hợp, hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự.

Bộ trưởng Bộ Công an quyết định tổ chức Công an xã chính quy.

Về lộ trình xây dựng Công an xã chính quy, Nghị định nêu rõ: Hoàn thành việc tổ chức Công an xã chính quy ở các xã, thị trấn trọng điểm, phức tạp về an ninh, trật tự trước ngày 30/6/2021; các xã, thị trấn còn lại trong toàn quốc hoàn thành việc tổ chức Công an xã chính quy trước ngày 30/6/2022.

Tăng mức hỗ trợ học nghề với người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 17/2021/QĐ-TTg quy định mức hỗ trợ học nghề đối với người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

Đối tượng áp dụng gồm:

1- Người lao động được hỗ trợ học nghề theo quy định tại Điều 55 Luật Việc làm (người lao động).

2- Cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học có đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp trình độ cao đẳng, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức được thực hiện hoạt động giáo dục nghề nghiệp tham gia đào tạo nghề nghiệp cho người lao động (cơ sở đào tạo nghề nghiệp).

3- Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; cơ quan bảo hiểm xã hội; trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập và các cơ quan có liên quan đến việc hỗ trợ học nghề cho người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

Về mức hỗ trợ, đối với người tham gia khóa đào tạo nghề đến 03 tháng, mức hỗ trợ tính theo mức thu học phí của cơ sở đào tạo nghề nghiệp và thời gian học nghề thực tế nhưng tối đa không quá 4.500.000 đồng/người/khóa đào tạo.

Đối với người tham gia khóa đào tạo nghề trên 03 tháng, mức hỗ trợ tính theo tháng, mức thu học phí và thời gian học nghề thực tế nhưng tối đa không quá 1.500.000 đồng/người/tháng (quy định cũ tại Quyết định 77/2014/QĐ-TTg là tối đa 1 triệu đồng/người/tháng).

Trường hợp người lao động tham gia khóa đào tạo nghề có những ngày lẻ không đủ tháng theo quy định của cơ sở đào tạo nghề nghiệp thì số ngày lẻ được tính theo nguyên tắc: Từ 14 ngày trở xuống tính là ½ tháng và từ 15 ngày trở lên được tính là 01 tháng.

Hồ sơ đề nghị học nghề và giải quyết hỗ trợ học nghề được thực hiện theo quy định tại Điều 24 và Điều 25 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 61/2020/NĐ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ).

Hằng tháng, cơ sở đào tạo nghề nghiệp thực hiện các thủ tục thanh, quyết toán kinh phí hỗ trợ học nghề theo quy định tại Điều 25 Nghị định 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 61/2020/NĐ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ).

Nguồn kinh phí thực hiện hỗ trợ học nghề do cơ quan bảo hiểm xã hội chi trả từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

Nghị định có hiệu lực từ ngày 15/5/2021.

Đối với người lao động đã nộp hồ sơ đề nghị hỗ trợ học nghề trước ngày 15/5/2021 nhưng chưa có quyết định hỗ trợ học nghề thì được áp dụng mức hỗ trợ học nghề theo các quy định tại Quyết định này.

Quyết định số 77/2014/QĐ-TTg ngày 24/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định mức hỗ trợ học nghề đối với người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp hết hiệu lực kể từ ngày 15/5/2021.

Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã hoạt động không vì lợi nhuận

Chính phủ ban hành Nghị định số 45/2021/NĐ-CP về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã.

Theo đó, quỹ hợp tác xã là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc là tổ chức tài chính hoạt động theo mô hình hợp tác xã, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, bảo toàn và phát triển vốn, tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong huy động vốn và sử dụng vốn nhằm thực hiện chức năng cho vay cho hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, thành viên của tổ hợp tác và hợp tác xã theo quy định tại Nghị định này và pháp luật có liên quan.

Quỹ hợp tác xã có chức năng tiếp nhận, quản lý và sử dụng các nguồn vốn trong nước và ngoài nước, các nguồn tài trợ, viện trợ, đóng góp, ủy thác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân trong nước theo quy định; cho vay cho khách hàng; thực hiện các hoạt động tư vấn tài chính và đầu tư; đào tạo cho các khách hàng vay vốn của Quỹ theo quy định của pháp luật; ủy thác, nhận ủy thác theo quy định và pháp luật có liên quan.

Mô hình Quỹ hợp tác xã trung ương

Quỹ hợp tác xã trung ương là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ theo quy định.

Cơ cấu tổ chức, bộ máy của Quỹ hợp tác xã trung ương gồm: Chủ tịch Quỹ; kiểm soát viên; Ban điều hành (gồm: Tổng Giám đốc, các Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng và bộ máy giúp việc).

Mỗi tỉnh, TP chỉ được thành lập 1 Quỹ hợp tác xã địa phương

Nghị định quy định các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xem xét thành lập Quỹ hợp tác xã địa phương trên cơ sở định hướng phát triển kinh tế tập thể trên địa bàn, đảm bảo việc thành lập là cần thiết, khả thi và đáp ứng đủ điều kiện theo quy định. Trường hợp cần thiết phải thành lập, mỗi  tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ được thành lập 01 Quỹ hợp tác xã địa phương theo quy định.

Điều kiện thành lập mới Quỹ hợp tác xã địa phương gồm: 1- Có Đề án thành lập Quỹ hợp tác xã địa phương được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Đề án phải bao gồm các nội dung cơ bản quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định này; 2- Có vốn điều lệ tối thiểu tại thời điểm thành lập Quỹ hợp tác xã là 20 tỷ đồng; 3- Có Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ hợp tác xã địa phương đã được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, phù hợp với quy định tại Điều 19 Nghị định này.

Theo quy định, quỹ hợp tác xã địa phương hoạt động theo một trong hai mô hình sau: 1- Mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; 2- Mô hình hợp tác xã.

Cơ cấu tổ chức, bộ máy của Quỹ hợp tác xã địa phương gồm: Chủ tịch Quỹ; kiểm soát viên; Ban điều hành (gồm: Giám đốc, các Phó Giám đốc, Kế toán trưởng và bộ máy giúp việc).

5 tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động Ngân hàng Phát triển VN

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 46/2021/NĐ-CP về chế độ quản lý tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam (Ngân hàng Phát triển). Theo đó, có 5 tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động Ngân hàng Phát triển.

5 tiêu chí gồm:

1- Tín dụng đầu tư Nhà nước.

2- Tỷ lệ nợ xấu.

3- Kết quả tài chính.

4- Tình hình chấp hành pháp luật về đầu tư, quản lý và sử dụng vốn Nhà nước tại Ngân hàng Phát triển đối với các nghiệp vụ phát sinh trong năm đánh giá.

5- Tình hình chấp hành chế độ báo cáo.

Các tiêu chí quy định nêu trên được xác định và tính toán từ số liệu trong báo cáo quyết toán tài chính riêng lẻ đã được kiểm toán, báo cáo thống kê định kỳ theo quy định của pháp luật.

Các tiêu chí đánh giá nêu trên khi tính toán được xem xét, loại trừ các yếu tố tác động:

+ Các nguyên nhân khách quan được loại trừ theo quy định về đánh giá hiệu quả hoạt động đối với doanh nghiệp nhà nước.

+ Các khoản nợ xấu phát sinh do khách hàng vay đang thực hiện sắp xếp theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các khoản nợ xấu cho vay theo Quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

+ Do Nhà nước thay đổi chính sách làm ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của Ngân hàng Phát triển.

+ Các khoản chậm cấp vốn của ngân sách nhà nước ảnh hưởng đến tài chính của Ngân hàng Phát triển.

Việc đánh giá hiệu quả hoạt động và xếp loại Ngân hàng Phát triển căn cứ vào báo cáo tài chính riêng lẻ đã được kiểm toán, được thực hiện theo quy định đối với doanh nghiệp nhà nước và Nghị định này.

Ngân hàng Phát triển được cấp bù lãi suất và chi phí quản lý

Về nguyên tắc quản lý tài chính, Ngân hàng Phát triển là ngân hàng chính sách, hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Ngân hàng Phát triển hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm thực hiện chính sách tín dụng của Nhà nước và các nhiệm vụ khác theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; được ngân sách nhà nước cấp bù lãi suất và chi phí quản lý theo quy định của pháp luật và Nghị định này; được miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước; được Chính phủ đảm bảo khả năng thanh toán; được áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0% và không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi.

Ngân hàng Phát triển được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho vay tái cấp vốn theo quy định của pháp luật; được tham gia thị trường liên ngân hàng, tham gia thị trường mở, tổ chức thanh toán nội bộ, cung cấp các dịch vụ thanh toán, các dịch vụ ngân hàng khác cho khách hàng, thực hiện hoạt động ngoại hối; được tham gia hệ thống thanh toán trong nước và quốc tế theo quy định của pháp luật.

Đối với hoạt động cho vay khác, ngân sách nhà nước không cấp bù lãi suất và phí quản lý; các khoản thu nhập, chi phí và kết quả hoạt động phát sinh được hòa nhập chung với kết quả hoạt động của Ngân hàng Phát triển theo quy định tại Nghị định này.

Nghị định nêu rõ, Ngân hàng Phát triển có trách nhiệm thực hiện các quy định về bảo đảm an toàn vốn hoạt động gồm: Quản lý, sử dụng vốn, tài sản, phân phối kết quả tài chính, thực hiện chế độ quản lý tài chính và chế độ kế toán theo quy định tại Nghị định này và các quy định của pháp luật có liên quan; mua bảo hiểm tài sản theo quy định của pháp luật; xử lý tổn thất theo quy định;...

Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/6/2021 và áp dụng từ năm tài chính 2021./.